Cô Bao Đệ đi ngủ sau khi xem xong thánh lễ chiều được phát lại trên tivi lúc 11 giờ. Cô ấy đã vài lần mời tôi ngồi lại trò chuyện, xem tivi cùng sau bữa tối, nhưng đến tận bây giờ, tôi vẫn luôn tìm được lý do thích hợp để khéo léo từ chối.
Tôi ngồi trên cầu thang ngoài trời, chờ đèn trong phòng cô ấy tắt. Tôi có thể thấy bóng dáng cô ấy di chuyển trong phòng, kiểm tra khóa cửa, rồi buông rèm xuống.
Tôi đoán, những người già sẽ dần dần thích nghi với cuộc sống cô độc, mặc dù chẳng ai muốn trải qua những năm tháng cuối đời mà không có người thân bên cạnh, lủi thủi một mình. Tôi tin rằng khi còn trẻ, mỗi khi nhìn về tương lai, chắc chắn cô ấy đã tràn đầy tự tin nghĩ rằng mình sẽ được hưởng tuổi già hạnh phúc bên con cháu. Hai người con trai của cô hẳn sẽ sống gần đó, ngày nào cũng về thăm mẹ, mang cho bà hoa tươi, bánh ngọt và quà cáp. Cô Bao Đệ không ngờ rằng mình sẽ phải đi đến cuối đời trong một ngôi nhà cũ kỹ, cô đơn cùng những ký ức mơ hồ về quá khứ.
Cô rất ít khi nhắc về con cháu. Dù trong phòng có đặt vài bức ảnh, nhưng nhìn kiểu dáng cũng đủ biết chúng đã từ nhiều năm trước. Tôi ở đây đã vài tuần nhưng chẳng thấy cô có bất kỳ liên lạc nào với con cháu cả.
Buổi tối không ngồi cùng cô, tôi cảm thấy rất áy náy, nhưng tôi có lý do của mình. Cô ấy thích xem mấy bộ phim hài tình huống ngớ ngẩn hết tập này đến tập khác, còn tôi thì không thể nào chịu nổi thể loại đó. Hơn nữa, tôi cần ôn tập để chuẩn bị cho kỳ thi lấy bằng luật sư.
Còn một lý do chính nữa. Cô Bao Đệ cứ ám chỉ khá mạnh mẽ rằng ngôi nhà cần phải quét vôi lại; đợi đến khi rải xong lớp đất phủ, cô sẽ bắt đầu công trình tiếp theo. Trong hoàn cảnh này, tất nhiên tôi phải tránh xa cô ấy ra một chút.
Hôm nay, tôi đã gửi một lá thư cho một luật sư ở Atlanta, cuối thư tôi ký tên với chức danh trợ lý luật sư J. Lehman-Stone, đặt ra vài câu hỏi liên quan đến di sản của người chồng cuối cùng của cô Bao Đệ là Anthony L. Modin. Tôi đang tiến từng bước chậm rãi, mặc dù vận may không được tốt lắm.
Đèn phòng ngủ của cô ấy đã tắt, tôi rón rén bước xuống chiếc cầu thang ọp ẹp, chân trần đi qua bãi cỏ ẩm ướt, tiến về phía chiếc võng vải treo giữa hai cái cây nhỏ. Vải võng đã sờn chỉ, không an toàn lắm, nhưng tối hôm trước tôi đã nằm trên đó đung đưa cả tiếng đồng hồ mà chẳng xảy ra chuyện gì. Nằm trên võng, xuyên qua tán lá, có thể nhìn thấy rõ mồn một vầng trăng tròn vành vạnh. Tôi nhẹ nhàng đung đưa. Đêm nay thật ấm áp.
Sau khi tận mắt chứng kiến sự việc của Van Randell tại bệnh viện ngày hôm nay, lòng tôi vẫn cứ bất an. Gần 3 năm trước khi mới bước chân vào trường luật, tôi từng có những lý tưởng cao đẹp, hy vọng một ngày nào đó có thể dùng tấm bằng luật sư của mình để cải thiện xã hội; còn những chuẩn mực đạo đức ràng buộc cái nghề vinh quang mà tôi sắp theo đuổi, tôi cứ ngỡ mọi luật sư đều sẽ nỗ lực tuân thủ. Lúc đó, tôi thực sự đã nghĩ như vậy. Tôi biết mình không thể thay đổi thế giới, nhưng tôi mơ ước được làm việc trong một môi trường áp lực cao, nơi đầy rẫy những người tài giỏi xuất chúng, và họ đều có thể kiên trì với những tiêu chuẩn đạo đức cao thượng. Tôi muốn nỗ lực làm việc, phát triển sự nghiệp, thu hút khách hàng bằng danh tiếng chứ không phải bằng những lời quảng cáo hoa mỹ. Sau khi bản lĩnh được nâng cao và tài sản gia tăng, tôi sẽ có thể nhận những vụ án mà người khác không muốn nhận, nhận những thân chủ mà người khác không muốn nhận, mà không cần phải bận tâm đến chuyện thù lao nhiều hay ít. Đối với sinh viên mới vào trường luật, những giấc mơ này không có gì đặc biệt.
Chúng tôi đã dành không biết bao nhiêu giờ để học tập và thảo luận về đạo đức nghề nghiệp, điều này đương nhiên có lợi cho danh tiếng của trường luật. Do đặc biệt nhấn mạnh vào khóa học này, tất cả chúng tôi đều tin rằng ngành này rất nhiệt tình với việc thực thi một bộ quy tắc đạo đức nghiêm ngặt. Nhưng giờ đây, những gì mắt thấy tai nghe lại làm tôi nản lòng. Trong tháng vừa qua, từng luật sư chân chính một đã dùng phi tiêu đâm thủng quả bóng bay hydro của tôi. Vì 1.000 đô la mỗi tháng, tôi đã biến mình thành kẻ săn trộm trong căng tin bệnh viện. Sa đọa đến mức độ này khiến tôi buồn nôn và đau đớn; tốc độ sa đọa nhanh đến mức khiến tôi kinh hãi.
Khi còn học đại học, người bạn thân nhất của tôi tên là Craig Barto. Chúng tôi đã ở chung phòng ký túc xá suốt 2 năm. Năm ngoái tôi còn dự đám cưới của cậu ấy. Lúc mới vào đại học, cậu ấy đã có một mục tiêu rõ ràng: sau khi tốt nghiệp sẽ dạy lịch sử cấp ba. Cậu ấy rất thông minh, các môn học đại học đối với cậu ấy dễ như trở bàn tay. Chúng tôi đã từng thảo luận rất lâu về vấn đề một đời người nên sống như thế nào. Tôi cảm thấy cậu ấy nói muốn đi dạy học là đang tự lừa dối chính mình; khi tôi so sánh sự nghiệp tương lai của mình với cậu ấy, cậu ấy thường hay nổi giận. Tôi theo đuổi việc kiếm thật nhiều tiền và đạt được thành công đẳng cấp; còn cậu ấy lại theo đuổi bục giảng, nhưng khi đã làm giáo viên, những yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương thì chính cậu ấy lại không thể kiểm soát được.
Craig lấy được bằng thạc sĩ, cưới một cô giáo, hiện đang dạy môn lịch sử và nghiên cứu xã hội lớp chín. Vợ cậu ấy đã mang thai, đang làm giáo viên ở trường mẫu giáo. Họ có một ngôi nhà xinh xắn ở nông thôn, rộng vài mẫu Anh, trong đó còn có một khu vườn nhỏ. Trong số những người tôi quen, họ là cặp đôi hạnh phúc nhất. Thu nhập một năm của hai vợ chồng rơi vào khoảng 50.000 đô la.
Nhưng Craig chẳng quan tâm đến tiền. Cậu ấy đang làm đúng việc mà cậu ấy luôn muốn làm, còn tôi thì chẳng biết rốt cuộc mình đang làm cái gì. Công việc của cậu ấy có ý nghĩa to lớn, cậu ấy đang tưới tắm cho tâm hồn học sinh, cậu ấy có thể nhìn thấy trước thành quả lao động của mình. Còn tôi thì sao? Ngày mai khi đến văn phòng làm việc, tôi lại phải hy vọng thông qua việc giăng bẫy hoặc dùng thủ đoạn lừa lọc để tóm được một thân chủ nào đó đang lăn lộn trong vũng bùn bất hạnh mà lại nhẹ dạ cả tin. Nếu luật sư kiếm được số lương bằng giáo viên trường học, thì cứ 10 trường luật sẽ có ngay 9 trường đóng cửa.
Tình trạng này phải thay đổi. Nhưng trước khi thay đổi, ít nhất còn có hai tai họa có thể giáng xuống đầu tôi. Thứ nhất, có thể tôi sẽ bị bắt vì vụ hỏa hoạn ở văn phòng Lake; ngay cả khi không bị bắt, nó cũng sẽ khiến tôi rơi vào cảnh khốn cùng. Thứ hai, tôi có thể sẽ thất bại trong kỳ thi lấy bằng luật sư.
Nghĩ đến hai tai họa có thể xảy ra này, tôi không khỏi run rẩy toàn thân, nằm trên võng run suốt đến tận rạng sáng.
Brusso đến văn phòng từ sớm, mắt đỏ ngầu, dư vị say vẫn chưa tan, nhưng khoác trên mình bộ vest len cao cấp và chiếc sơ mi trắng tinh tươm, thắt chiếc cà vạt lụa đắt tiền, diện mạo vô cùng nổi bật. Mấy sợi tóc bù xù trên đầu sáng nay rõ ràng đã được chải chuốt kỹ lưỡng, sạch sẽ bóng loáng.
Hôm nay ông ta phải ra tòa để tranh luận sơ bộ cho một vụ án buôn ma túy nên rất căng thẳng. Tôi được lệnh đứng trước bàn làm việc của ông ta để nghe chỉ thị.
“Vụ của Van Randell làm tốt lắm,” ông ta nói, đầu vẫn vùi vào đống hồ sơ giấy tờ. Drew đang bận rộn xoay xở phía sau ông ta, khoảng cách không xa không gần, vừa vặn nằm ngoài phạm vi nguy hiểm. Những con cá mập nhìn cô ta với ánh mắt đói khát. “Tôi vừa gọi điện cho công ty bảo hiểm rồi. Số tiền bảo hiểm rất lớn. Có vẻ trách nhiệm cũng rất rõ ràng. Cậu thanh niên đó bị thương thế nào?”
Đêm qua tôi đã dành một giờ ở bệnh viện với Dan Van Randell và vợ anh ta. Họ hỏi rất nhiều câu hỏi khiến tôi vắt óc suy nghĩ. Điều họ quan tâm nhất là có thể lấy được bao nhiêu. Có vài câu hỏi tôi trả lời cụ thể, đa số câu hỏi tôi đều nói mập mờ, kỹ năng nói chuyện của một luật sư đang diễn kịch quả là đáng khen ngợi. Đến tận bây giờ, họ vẫn chưa thay đổi ý định. “Gãy một chân, một cánh tay, vài cái xương sườn, trên người có rất nhiều vết thương. Bác sĩ nói anh ta phải nằm viện khoảng 10 ngày.”
Brusso cười cười. “Làm cho chặt chẽ vào. Điều tra kỹ đi. Cứ làm theo lời Deke nói. Vụ này có thể giải quyết rất mỹ mãn.”
Mỹ mãn là đối với Brusso ông ta. Phí thu được tôi chẳng được chia một xu. Số tiền kiếm được từ vụ này không được tính là sản phẩm của tôi.
“Cảnh sát muốn cậu đưa ra một bản tuyên bố, nói về vụ hỏa hoạn đó,” ông ta vừa đưa tay lấy một tập hồ sơ vừa buông ra câu đó. “Tối hôm qua đã nói chuyện với họ rồi. Họ sẽ đến đây nói chuyện với cậu, ngay tại văn phòng này, với sự có mặt của tôi.”
Ông ta nói giọng điệu như thể mọi thứ đã quyết định, tôi không còn lựa chọn nào khác. “Nếu tôi từ chối thì sao?”
“Họ có thể sẽ đưa cậu về thẩm vấn. Nếu cậu không có gì cần giấu giếm, tôi khuyên cậu hãy đưa cho họ bản tuyên bố này. Có tôi ở đó, cậu có thể bàn bạc với tôi mà. Cứ nói chuyện với họ đi, nói xong chẳng phải là xong chuyện rồi sao?”
“Vậy là họ cho rằng có người phóng hỏa?”
“Điểm này họ khá chắc chắn.”
“Họ muốn biết gì từ tôi?”
“Cậu ở đâu lúc đó, làm gì, thời gian, địa điểm, bằng chứng ngoại phạm, đại loại như vậy.”
“Tôi không thể trả lời hết mọi câu hỏi, tôi chỉ có thể trình bày sự thật.”
Brusso cười nói: “Vậy thì sự thật chắc chắn sẽ giúp cậu được tự do.”
“Tôi viết bản tuyên bố ra được không?”
“Chiều nay hai giờ chúng ta cùng viết.”
Tôi gật đầu chắc nịch, không nói gì. Thật kỳ lạ, trong hoàn cảnh khó khăn thế này, tôi lại tin tưởng Brusso Stone một cách mù quáng, trong khi ở những trường hợp khác, tôi tuyệt đối sẽ không tin tưởng một người như vậy.
“Tôi cần xin nghỉ một thời gian, Brusso,” tôi nói.
Đôi bàn tay đang cử động không ngừng của ông ta đông cứng giữa không trung, mắt trừng lớn nhìn tôi. Drew đang sắp xếp tủ tài liệu ở một góc cũng dừng lại nhìn tôi. Một con cá mập dường như cũng nghe thấy lời tôi, dừng lại không bơi nữa.
“Cậu mới bắt đầu thôi mà,” Brusso nói.
“Vâng, tôi hiểu. Nhưng ngày thi lấy bằng đã gần đến rồi, tôi thực sự đã bỏ lỡ rất nhiều bài vở.”
Đầu ông ta nghiêng sang một bên, tay vuốt chòm râu dê. Khi Brusso uống rượu vui vẻ, ánh mắt luôn trở nên rất nghiêm khắc, lúc này ánh mắt ông ta lại chẳng khác gì tia laser. “Cần bao nhiêu thời gian?”
“À, tôi nghĩ là sáng đến văn phòng làm việc đến khoảng giữa trưa. Sau đó, ông biết đấy, tùy theo lịch trình ra tòa và các cuộc hẹn, tôi sẽ lẻn vào thư viện học vào thời điểm thích hợp.” Tôi định đùa một chút, nhưng nói ra lại nghe nhạt nhẽo đến khó tin.
“Cậu có thể học cùng Deke mà,” Brusso đột nhiên cười nói. Ông ta đang đùa! Thế nên tôi cũng cười ha hả một trận. “Tôi bảo cậu cách này,” ông ta lại nghiêm túc nói. “Cậu làm việc đến trưa, rồi mang sách vở đến căng tin bệnh viện St. Peter. Cậu phải học hành cho cật lực vào, à, đồng thời cũng phải mở to mắt ra. Tất nhiên là tôi hy vọng cậu đỗ kỳ thi, nhưng hiện tại tôi quan tâm đến việc kiếm thêm vài vụ án mới hơn. Mang theo điện thoại di động, tôi có thể gọi cho cậu bất cứ lúc nào. Thế là công bằng chứ?”
Tại sao mình lại đề cập đến chuyện này, đưa ra kỳ thi lấy bằng chẳng khác nào tự đá vào mông mình. “Tất nhiên rồi,” tôi nhíu mày nói.
Tối hôm qua khi nằm trên chiếc võng vải, tôi còn mơ ước có được chút vận may để không phải đến bệnh viện St. Peter nữa. Vậy mà bây giờ, tôi lại được lệnh trở thành đại diện thường trú ở đó!
Hai cảnh sát từng ghé qua phòng tôi xuất hiện trước mặt Brusso, xin phép ông ta thẩm vấn tôi. Bốn người chúng tôi ngồi quanh một chiếc bàn tròn nhỏ ở góc văn phòng. Giữa bàn đặt hai chiếc máy ghi âm, đĩa băng đã bắt đầu quay.
Cuộc thẩm vấn nhanh chóng trở nên nhàm chán. Tôi lặp lại những gì đã nói khi lần đầu tiên gặp hai gã hề này, còn họ thì dành phần lớn thời gian để xào lại những chuyện vụn vặt, cố gắng ép tôi mâu thuẫn trong những chi tiết vô nghĩa — “Nhớ là cậu nói mặc áo sơ mi màu xanh hải quân, nhưng bây giờ lại nói áo sơ mi màu xanh” — nhưng những gì tôi nói đều là sự thật, vốn dĩ tôi chẳng có gì cần phải giấu giếm cả. Tra tấn suốt 1 tiếng đồng hồ, họ dường như nhận ra tôi không phải người họ đang tìm.
Brusso nghe rất mất kiên nhẫn, liên tục bảo họ đừng có dậm chân tại chỗ nữa. Họ cũng nghe lời ông ta, nhưng chỉ được một lúc. Tôi không nghi ngờ gì cả, hai cảnh sát này sợ Brusso.
Cuối cùng họ cũng rời đi, Brusso nói mọi chuyện đến đây là kết thúc. Tôi không còn thực sự là nghi phạm nữa, hai cảnh sát kia đến đây chỉ là để tự chùi mông cho mình thôi. Sáng mai ông ta sẽ chào hỏi cấp trên của họ, bảo hắn kết thúc chuyện này triệt để.
Tôi cảm ơn ông ta. Ông ta đưa cho tôi một chiếc điện thoại di động to bằng bàn tay. “Lúc nào cũng phải mang theo bên mình,” ông ta nói. “Đặc biệt là khi chuẩn bị cho kỳ thi lấy bằng. Tôi muốn tìm cậu thì cậu phải lập tức bắt máy.” Chiếc điện thoại di động trong tay tôi đột nhiên trở nên nặng nề, thông qua nó, 24 giờ một ngày, tôi đều phải nghe theo những ý tưởng bất chợt của ông ta.
Ông ta đuổi tôi về văn phòng của mình.
Khi tôi quay lại căng tin gần khu ngoại khoa, tôi đã đưa ra một quyết định nghiêm túc: trốn trong góc ôn tập tài liệu, để cái điện thoại chết tiệt đó trong tầm tay, nhưng với những người xung quanh thì coi như không thấy.
Đồ ăn ở đây cũng tạm được. Sau 7 năm ăn ở căng tin đại học, ăn gì tôi cũng thấy ngon miệng. Tôi mua 3 chiếc bánh sandwich phô mai ớt chuông và một túi khoai tây chiên. Ngồi trong góc tựa vào tường, trên bàn trước mặt trải đầy tài liệu ôn thi.
Tôi vừa nhồm nhoàm ăn sandwich vừa quan sát những thực khách khác. Đa số mọi người mặc đồng phục bệnh viện, bác sĩ mặc áo phẫu thuật đã khử trùng, y tá mặc bộ đồ trắng tinh, kỹ thuật viên mặc áo khoác trong phòng thí nghiệm. Họ ngồi thành từng nhóm ba năm người, bàn tán về những chi tiết bệnh tật và điều trị mà tôi chưa từng nghe thấy bao giờ. Những người được coi là quan tâm đến sức khỏe, dinh dưỡng này lại ăn những thứ tệ không thể tả: khoai tây chiên, hamburger, bim bim và pizza. Tôi nhìn vài bác sĩ trẻ đang chen chúc ăn cùng nhau, trong lòng nghĩ: nếu họ biết bên cạnh mình đang ngồi một luật sư, một người đang bận rộn chuẩn bị đỗ kỳ thi để tương lai một ngày nào đó có thể kiện họ, họ sẽ có cảm nghĩ gì?
Họ có quan tâm không, tôi không chắc. Tôi có quyền đến căng tin này giống như họ.
Chẳng ai chú ý đến tôi. Thỉnh thoảng có một vài bệnh nhân chống nạng khập khiễng bước vào, hoặc được người đẩy vào trên xe lăn. Tôi không thấy luật sư nào khác ngồi bên cạnh, sẵn sàng vồ lấy tôi.
Tôi mua cốc cà phê đầu tiên lúc 6 giờ chiều, chẳng bao lâu sau đã tập trung tư tưởng vùi đầu vào tài liệu ôn tập của hai môn hợp đồng và bất động sản. Ôn tập hai môn hành xác này khiến tôi không chỉ nhớ lại cảnh tượng kinh hoàng khi học năm thứ nhất trường luật. Nhưng dây dưa đến tận hôm nay, đã không thể trì hoãn thêm được nữa, tôi chỉ còn cách nỗ lực tiến lên. Một giờ sau, tôi lại đi châm đầy cốc cà phê. Khách đã thưa thớt, tôi nhìn thấy ở phía bên kia căng tin có hai người bị thương ngồi cùng nhau, cả hai đều quấn đầy băng gạc. Nếu là Deke, chắc chắn sẽ tiến về phía họ, nhưng tôi thì không bao giờ.
Lại một lúc nữa trôi qua, điều khiến tôi kinh ngạc là mình lại thích ở đây. Ở đây rất yên tĩnh, lại không có ai quen biết tôi, là một nơi lý tưởng để đọc sách. Vị cà phê không tệ, hơn nữa châm đầy một cốc chỉ tính nửa giá. Xa cô Bao Đệ, tôi không cần phải lo lắng về lao động chân tay. Ông chủ bảo tôi ở đây, mặc dù là muốn tôi đứng gác tìm kiếm con mồi, nhưng tôi có nỗ lực hay không thì ông ta nằm mơ cũng không biết. Hơn nữa ông ta cũng không đặt chỉ tiêu, quy định mỗi tuần tôi phải ký được bao nhiêu hợp đồng ủy thác.
Chiếc điện thoại di động phát ra tiếng tút tút yếu ớt. Là Brusso gọi điện kiểm tra. Vận may thế nào? Không ra gì, tôi nói, vừa nhìn hai gã bị thương đầu vẹo cổ lệch đang so bì vết thương trên xe lăn ở phía bên kia căng tin. Ông ta nói ông ta đã nói chuyện với cảnh sát trưởng, tình hình có vẻ rất tốt. Ông ta tin cảnh sát sẽ tìm kiếm manh mối khác, tìm kiếm nghi phạm khác. Chúc cậu câu cá vui vẻ! Ông ta cười ha hả rồi cúp máy. Chắc chắn ông ta lại định đến quán rượu Yuji, uống vài chén rượu mạnh với Prince.
Tôi lại ôn tập thêm 1 giờ nữa, rồi rời căng tin, lên tầng 8 thăm Dan Van Randell. Anh ta vẫn đang chịu đựng sự dày vò của đau đớn, nhưng không phản đối việc nói chuyện với tôi. Tôi mang tin tốt là đã tiếp xúc với công ty bảo hiểm đối phương, số tiền bảo hiểm rất lớn nói cho anh ta biết. Tôi dùng những lời Deke nói với tôi lúc trước để giải thích cho anh ta, các điều kiện trong vụ án của anh ta đều đầy đủ: trách nhiệm rõ ràng (đối phương không nghi ngờ gì là lái xe trong tình trạng say rượu), số tiền bảo hiểm khổng lồ, hơn nữa vết thương rất “đẹp”. Cái gọi là vết thương rất “đẹp” là chỉ những chiếc xương gãy đó, có khả năng không tốn chút sức lực nào, có thể phát triển thành trạng thái kỳ diệu gọi là “gãy xương vĩnh viễn”.
Dan cười một cách khó nhọc mà vui vẻ. Anh ta đã bắt đầu tính toán xem có thể nhận được bao nhiêu tiền bồi thường rồi. Nhưng cái bánh này chia chác thế nào, anh ta còn phải mặc cả với Brusso dài dài.
Tôi chào tạm biệt anh ta, hứa ngày mai lại đến thăm. Tôi đã được lệnh thường trú tại bệnh viện, tôi có đủ điều kiện để thăm tất cả các thân chủ của mình, cung cấp dịch vụ cho họ.
Tôi quay lại căng tin, ngồi vào góc cũ. Lúc này, căng tin đã chật kín khách. Cuốn sách tôi để trên bàn lúc đi lên tầng 8 vẫn chưa cất đi, trong đó có một cuốn có cái tên rất nổi bật: 《Tạp chí luật Hilton》, thu hút sự chú ý của vài bác sĩ trẻ ngồi bàn bên cạnh. Khi tôi ngồi xuống, họ đều nhìn tôi với ánh mắt nghi ngờ, và đồng loạt im bặt, vì vậy tôi hiểu họ đã thảo luận chi tiết về cuốn sách của tôi. Họ rời căng tin chẳng bao lâu sau đó. Tôi lại gọi cà phê, chìm đắm trong thủ tục tố tụng liên bang kinh ngạc đến ngỡ ngàng.
Khách trong căng tin chỉ còn lại vài người cuối cùng. Tôi uống cốc cà phê đã lọc hết caffeine. Trong 4 giờ qua, tôi kinh ngạc khi thấy mình đã đọc xong nhiều tài liệu đến thế. 9 giờ 45 phút, Brusso lại gọi một cuộc điện thoại nữa. Nghe giọng ông ta hình như đang ở quán bar nào đó. Ông ta muốn tôi sáng mai 9 giờ đến văn phòng ông ta, thảo luận một quan điểm pháp lý; vụ án buôn ma túy mà ông ta đang nắm trong tay sẽ mở phiên tòa vào tháng này, ông ta cần phải làm rõ. Tôi nhất định đến, tôi nói.
Nếu luật sư của tôi vừa uống rượu trong câu lạc bộ thoát y, vừa cân nhắc cơ sở lý luận pháp lý dùng để bào chữa cho tôi, tôi mà biết được chắc chắn sẽ vô cùng tức giận.
Nhưng Brusso là ông chủ của tôi.
10 giờ, trong căng tin chỉ còn lại một mình tôi. Căng tin này mở cửa suốt đêm, nên nhân viên thu ngân không bận tâm đến sự hiện diện của tôi. Tôi đang chìm đắm trong việc mô tả các cuộc hội đàm trước phiên tòa đòi hỏi kỹ năng ngôn ngữ cao, đột nhiên nghe thấy tiếng hắt hơi du dương êm tai của một phụ nữ trẻ. Ngẩng đầu nhìn, hóa ra ở cách tôi hai cái bàn, có một bệnh nhân đang ngồi trên xe lăn. Lúc này, ngoài tôi ra, cô ấy là vị khách duy nhất của căng tin. Cái chân phải duỗi thẳng của cô ấy từ đầu gối trở xuống đều bó bột. Dựa vào sự hiểu biết nông cạn của tôi về bột bó, từ màu sắc của lớp bột trên chân cô ấy có thể thấy, chân cô ấy được cố định bằng bột là chuyện gần đây.
Cô ấy rất trẻ, và cực kỳ xinh đẹp. Tôi không kìm được mà nhìn chằm chằm vào cô ấy vài giây, mới chuyển ánh mắt trở lại trang ghi chép, nhưng chẳng bao lâu sau, lại không tự chủ được mà ngẩng đầu nhìn cô ấy, hơn nữa lần này nhìn lâu hơn. Tóc cô ấy đen nhánh, xõa tung trên vai. Đôi mắt màu hạt dẻ đẫm lệ, ngũ quan đoan chính, đường nét rõ ràng, nhưng xương hàm dưới bên trái rõ ràng là xanh tím sưng vù, đây thường là vết thương do một cú đấm đê hèn để lại. Một chiếc áo choàng trắng tiêu chuẩn của bệnh viện khoác lên cơ thể gần như mong manh của cô ấy.
Một ông lão mặc áo khoác màu hồng nhẹ nhàng đặt một chiếc cốc nhựa đựng nước cam lên bàn trước mặt cô ấy. Có rất nhiều người tốt bụng làm tình nguyện ở bệnh viện St. Peter, ông lão này chính là một trong số đó. “Uống một chút đi, Kelly.” Giọng điệu ông ta nói như một người ông nội hoàn hảo.
“Cảm ơn ạ.” Cô ấy cười tươi.
“Cháu nói 30 phút?” ông ta hỏi.
Cô ấy gật đầu, cắn môi dưới. “30 phút ạ.” Cô ấy nói với ông ta.
“Còn cần ông làm gì nữa không?”
“Không ạ, cảm ơn ông.”
Ông ta nhẹ nhàng vỗ vai cô ấy rồi rời khỏi căng tin.
Lại chỉ còn lại hai chúng tôi. Tôi cố gắng không nhìn cô ấy, nhưng không thể kiềm chế được. Mắt dán vào trang sách chỉ được một lát, lại không thể kìm lòng, lại từ từ ngẩng lên, cho đến khi có thể nhìn rõ cô ấy. Hướng cô ấy quay không phải đối diện với tôi, mà gần như tạo thành một góc vuông 90 độ. Cô ấy dùng hai tay bưng cốc đồ uống, tôi thấy hai cổ tay cô ấy đều quấn băng gạc. Đến tận bây giờ, cô ấy vẫn chưa nhìn thấy tôi. Thực tế, tôi đã nhận ra, ngay cả khi căng tin này chật kín người, cô ấy cũng sẽ làm ngơ. Lúc này, Kelly đang ở trong thế giới nhỏ bé biệt lập của riêng mình.
Hình như cô ấy bị gãy xương mắt cá chân. Những vết bầm tím trên mặt, dù chẳng thấy vết thương hở nào, cũng đủ để đáp ứng hàng tá yêu cầu của Đái Khắc. Thế nhưng, chấn thương ở hai cổ tay lại khiến người ta khó hiểu. Dù cô ấy đẹp đến nhường ấy, tôi vẫn không chút xao động, chẳng hề muốn đem mấy kỹ năng "đào tận gốc trốc tận rễ" ra để hành nghề. Cô ấy trông đau buồn đến thế, sao tôi nỡ lòng nào khoét sâu thêm nỗi bất hạnh của cô ấy? Ngón áp út bàn tay trái đeo một chiếc nhẫn cưới mỏng manh, trong khi tuổi cô ấy chắc chắn không quá 18. Tôi cố hết sức kiềm chế. Suốt ít nhất năm phút đồng hồ, mắt tôi không rời khỏi cuốn sách, nhưng vẫn thấy cô ấy dùng khăn giấy lau mắt. Đầu cô nghiêng nhẹ sang phải, từng giọt nước mắt lăn dài. Cô đang nức nở không thành tiếng.
Tôi nhanh chóng nhận ra, những giọt nước mắt này chẳng liên quan gì đến cơn đau từ cái mắt cá chân gãy kia. Thứ khiến cô ấy khóc không phải là nỗi đau thể xác.
Trí tưởng tượng của một gã luật sư tập sự hạng xoàng như tôi bắt đầu bay bổng. Có lẽ là một vụ tai nạn giao thông, người chồng tử nạn tại chỗ, còn cô ấy chỉ bị thương. Cô ấy còn quá trẻ, chắc chắn chưa có con, nhà ngoại lại ở xa, nên mới lẻ loi ngồi đây, khóc thương người chồng xấu số. Có khi lại là một vụ án chấn động không chừng!
Tôi lắc đầu mạnh, gạt phăng những suy nghĩ kinh khủng đó, cố gắng tập trung sự chú ý vào cuốn sách trước mặt. Cô ấy vẫn không ngừng nấc nghẹn, khóc không thành tiếng. Vài vị khách đến rồi đi, chẳng có ai nán lại, ngồi vào bàn của Khải Lệ hay bàn tôi. Tôi uống cạn ly cà phê, lặng lẽ đứng dậy khỏi ghế, đi thẳng từ phía cô ấy ra quầy thu ngân. Tôi nhìn cô, cô nhìn tôi, ánh mắt chúng tôi chạm nhau đúng một giây, tôi suýt nữa thì va phải chiếc ghế kim loại. Với bàn tay run rẩy, tôi thanh toán tiền cà phê, rồi hít một hơi thật sâu, dừng bước bên bàn cô ấy.
Cô ấy chậm rãi ngước đôi mắt xinh đẹp đẫm lệ lên. Tôi nín thở nói: "Ừm, tôi không phải người thích xen vào chuyện người khác, nhưng tôi có thể giúp gì cho cô không? Cô có đau không?" Tôi chỉ tay vào cái chân đang bó bột của cô rồi hỏi.
"Không," cô ấy nói, giọng nhẹ đến mức gần như không nghe thấy. Tiếp đó là một nụ cười mỉm đầy cảm xúc. "Nhưng vẫn cảm ơn anh."
"Không có gì," tôi nói. Tôi liếc nhìn chiếc bàn cách đó gần 20 feet nơi tôi đang ngồi. "Tôi đang ở bên kia ôn bài, chuẩn bị cho kỳ thi luật sư. Nếu cô cần gì thì cứ gọi." Tôi nhún vai, như muốn nói: Tôi không biết giúp gì cho cô, nhưng dù là kẻ ngốc, tôi vẫn là người tốt bụng muốn giúp đỡ, nên nếu có lỡ vượt quá giới hạn thì mong cô lượng thứ. Nhưng tôi quan tâm đến cô, và luôn sẵn sàng có mặt.
"Cảm ơn," cô ấy nói thêm lần nữa.
Tôi quay trở lại chỗ ngồi. Giờ tôi đã nói rõ với cô ấy rằng mình đang dùi mài kinh sử, hy vọng sớm đặt chân vào một ngành nghề cao quý, hiện tại coi như là nửa cái luật sư. Chắc chắn cô ấy cũng đã có chút ấn tượng mơ hồ về tôi. Tôi yên tâm cắm đầu vào sách, không còn bận tâm đến nỗi đau mà cô đang chịu đựng nữa.
Vài phút trôi qua. Khi lật một trang sách, tôi nhìn về phía cô, cô cũng đang nhìn tôi. Tim tôi ngừng đập mất một giây. Tôi cúi đầu, không nhìn, không nghĩ, không quan tâm đến cô nữa, cho đến cuối cùng không thể nhịn được nữa mới ngước mắt lên: Cô ấy đã lại rơi sâu vào vũng lầy đau khổ. Cô nắm chặt khăn ăn, nước mắt chảy dài trên má.
Nhìn cô ấy đau lòng như vậy, tim tôi đau như cắt. Tôi thực sự muốn ngồi bên cạnh, vòng tay ôm lấy cô và trò chuyện. Nếu cô đã kết hôn, vậy chồng cô ấy đâu rồi? Đôi mắt cô nhìn về phía tôi, nhưng tôi nghĩ cô không hề thấy tôi.
Người tùy tùng mặc áo khoác hồng của cô đến đúng 10 giờ 30 phút, cô lập tức cố gắng lấy lại bình tĩnh. Ông ta nhẹ nhàng vỗ đầu cô, nói vài lời an ủi mà tôi không nghe thấy, rồi quay xe lăn một cách ân cần. Khi rời khỏi nhà hàng, cô nhìn tôi không chút che giấu, ném cho tôi một cái nhìn dài đầy lệ cùng một nụ cười.
Tôi rất muốn đi theo sau xe lăn một đoạn để xem phòng bệnh của cô ở đâu. Nhưng tôi đã kiềm chế bản thân. Sau đó, tôi lại muốn tìm ông già mặc áo khoác hồng kia, bắt ông ta phải khai ra mọi chuyện. Nhưng cuối cùng tôi vẫn không làm thế. Tôi phải tìm cách quên cô ấy đi. Cô ấy chỉ là một đứa trẻ lớn xác mà thôi.
Tối hôm sau tôi lại đến nhà hàng, ngồi vào chiếc bàn cũ. Tôi nghe đám đông vội vã kia đang líu lo những chuyện phiếm với cùng một giọng điệu hối hả. Tôi chào hỏi vợ chồng Phạm-Lan Nhĩ, đáp lại hàng tá câu hỏi của họ. Tôi lạnh lùng quan sát những con cá mập khác đang tranh giành miếng ăn trong vùng nước đục này. Tôi lờ đi vài khách hàng tiềm năng rõ mồn một đang chờ bị lừa. Tôi vùi đầu học suốt nhiều tiếng đồng hồ. Tôi học rất tập trung, khao khát học tập chưa bao giờ mãnh liệt đến thế.
Nhưng tôi không quên chiếc đồng hồ treo trên tường. Gần 10 giờ, tôi không thể giữ nổi sự bình tĩnh, mắt bắt đầu liếc nhìn xung quanh. Tôi cố hết sức giữ cho mình điềm tĩnh, tiếp tục khổ luyện, nhưng hễ có ai bước vào nhà hàng là tôi lại không tự chủ được mà bật dậy khỏi ghế. Một bàn có hai y tá đang dùng bữa, bàn khác có một kỹ thuật viên cô độc đang đọc sách.
10 giờ 5 phút, cuối cùng cô ấy cũng xuất hiện ở nhà hàng. Vẫn ông già đó nhẹ nhàng đẩy xe lăn, đưa cô đến vị trí cũ. Cô chọn cái bàn hôm qua, trong lúc ông ta xếp ghế cho cô, cô mỉm cười với tôi. "Nước cam," cô nói. Tóc cô vẫn chải ngược ra sau như hôm qua, nhưng nếu tôi không nhầm thì hôm nay cô có chuốt chút mascara, kẻ chút viền mắt, lại còn thoa chút son hồng nhạt, hiệu quả thật đáng kinh ngạc. Tối qua tôi không để ý rằng cô chẳng hề trang điểm; tối nay, chỉ vài nét chấm phá, cô lại xinh đẹp rạng rỡ đến thế. Đôi mắt cô như hồ nước trong veo, lấp lánh ánh hạnh phúc, chẳng còn chút đau buồn nào.
Ông già đặt ly nước cam trước mặt cô, rồi nói lại những lời của tối qua. "Uống chút đi, Khải Lệ. Cô nói 30 phút?"
"45 phút đi," cô nói.
"Tôi nghe cô," ông ta nói xong liền thong thả rời đi.
Cô nhấp môi ly nước cam, ánh mắt mơ hồ nhìn mặt bàn. Hôm nay, tôi đã nhớ về Khải Lệ rất lâu, đã sớm quyết định lộ trình hành động của mình. Tôi đợi vài phút, giả vờ không thấy cô, chỉ lật cuốn "Tạp chí Luật I-Nhĩ-Đốn" một cách vô thức, rồi chậm rãi đứng dậy, như thể muốn đi uống cà phê nghỉ ngơi. Tôi đi đến bàn cô nói: "Hôm nay cô trông khá hơn rồi."
Rõ ràng cô ấy đang đợi tôi mở lời như thế. "Tôi cảm thấy tốt hơn nhiều," cô nói, mỉm cười duyên dáng, để lộ hàm răng trắng không tì vết như ngọc trai. Khuôn mặt cô thật diễm lệ, dù có vết bầm tím đáng sợ kia.
"Tôi mua cho cô chút gì nhé, được không?"
"Tôi muốn uống Coca. Nước cam này đắng quá."
"Được thôi," tôi nói rồi quay đầu bước đi, phấn khích đến mức không lời nào tả xiết. Tôi thanh toán tại máy bán hàng tự động, lấy hai cốc Coca lớn, quay lại đặt lên bàn cô, rồi nhìn chằm chằm vào chiếc ghế đối diện cô với vẻ bối rối, không nói một lời.
"Anh ngồi đi," cô nói.
"Thật chứ?"
"Ngồi đi. Tôi chán nói chuyện với mấy cô y tá lắm rồi."
Tôi ngồi xuống, chống khuỷu tay lên bàn. "Tôi tên Lỗ Địch-Bối Lặc," tôi tự giới thiệu. "Cô là Khải Lệ—"
"Khải Lệ-Lại Khảo. Rất vui được biết anh."
"Rất vui được biết cô." Ở cách xa 20 feet mà lén nhìn cô đã đủ khiến lòng tôi xao xuyến, giờ chỉ cách có 4 feet, có thể yên tâm nhìn ngắm cô không chớp mắt, làm sao tôi không khỏi ngẩn ngơ, chết lặng? Đôi mắt màu hạt dẻ dịu dàng của cô thỉnh thoảng lại tinh nghịch lấp lánh. Cô ấy thực sự là kiệt tác của Thượng đế!
"Tối qua làm phiền cô, thật xin lỗi," tôi nói, sốt ruột muốn tiếp tục câu chuyện. Tôi muốn biết nhiều, rất nhiều chuyện.
"Anh đâu có làm phiền tôi. Tôi mới là người phải xin lỗi vì đã làm trò cười như vậy."
"Tại sao cô lại đến đây?" tôi hỏi, như thể cô là người lạ qua đường còn tôi mới là chủ nhà.
"Ở phòng bệnh chán quá. Còn anh?"
"Ôn bài, chuẩn bị thi luật sư. Ở đây yên tĩnh."
"Vậy là anh sắp làm luật sư à?"
"Đúng vậy. Vài tuần trước tôi tốt nghiệp trường luật, tìm được việc ở một văn phòng. Thi đỗ chứng chỉ là tôi sẽ rời khỏi đó."
Cô dùng ống hút hút Coca; cựa quậy trên xe lăn, ngay lập tức đau đến mức nhăn mặt. "Chấn thương nặng lắm phải không?" tôi hỏi, đầu gật về phía chân cô.
"Mắt cá chân tôi đau lắm, bác sĩ đóng một cây đinh vào đó rồi."
"Chuyện gì đã xảy ra?" Rõ ràng, tôi sẽ hỏi câu này tiếp theo, và tôi nghĩ cô ấy trả lời chuyện này chắc chẳng tốn chút sức lực nào.
Nhưng không. Cô ngập ngừng một lúc, mắt lập tức đẫm lệ. "Có chút chuyện ở nhà," cô nói. Lời giải thích mơ hồ này nghe như đã được tập dượt từ trước.
Chết tiệt! Cái này nghĩa là sao? Có chút chuyện ở nhà? Là cô ấy bị ngã cầu thang mà bị thương à?
"Ồ," tôi nói, như thể cô ấy đã trả lời rõ ràng lắm rồi. Hai cổ tay cô không bó bột mà quấn băng, điều này khiến tôi rất lo lắng. Có vẻ không phải gãy xương hay bong gân, mà có thể là vết thương.
"Nói ra thì dài dòng lắm," cô hút một ngụm Coca, mắt nhìn đi chỗ khác lẩm bẩm.
"Ở đây bao lâu rồi?" tôi hỏi.
"Mấy ngày. Bác sĩ muốn theo dõi xem cây đinh đóng vào có bị cong không. Nếu cong thì phải phẫu thuật lần nữa." Cô ngừng lại, nghịch ống hút trong tay. "Ở chỗ này học bài, không thấy lạ sao?" cô hỏi.
"Không đâu. Ở đây yên tĩnh, cà phê uống không hết, lại mở suốt đêm. Cô đeo nhẫn cưới à?" Chuyện này hành hạ tôi hơn bất cứ thứ gì.
Cô nhìn chiếc nhẫn, như thể muốn xác nhận xem nó còn trên ngón tay mình không. "Đúng vậy," cô nói xong, ánh mắt chuyển sang ống hút. Chiếc nhẫn trơn tuột, không có kim cương.
"Vậy chồng cô sao không đến bên cô?"
"Anh hỏi nhiều thật đấy."
"Tôi là luật sư, hoặc sắp là luật sư. Chúng tôi được đào tạo như vậy mà."
"Tại sao anh lại muốn biết?"
"Vì cô rõ ràng đang bị thương, mà anh ta lại không có mặt, để cô một mình ở bệnh viện, chuyện này rất lạ."
"Anh ấy đã đến rồi."
"Giờ ở nhà trông con à?"
"Chúng tôi không có con. Còn anh?"
"Không. Chưa có vợ, lấy đâu ra con!"
"Anh bao nhiêu tuổi?"
"Cô hỏi nhiều thật đấy," tôi mỉm cười nói. Mắt cô đang lấp lánh. "25 tuổi, cô bao nhiêu?"
Cô suy nghĩ một chút. "19 tuổi."
"Tuổi này mà kết hôn, sớm quá."
"Tôi không còn cách nào khác."
"Ồ, xin lỗi nhé."
"Không phải lỗi của anh. Tôi vừa tròn 18 tuổi thì phát hiện mình mang thai. Không lâu sau đó thì kết hôn. Cưới được 1 tuần thì sảy thai. Từ đó về sau, cuộc sống ngày càng tệ đi. Đấy, giờ anh thỏa mãn sự tò mò chưa?"
"Chưa. Ừm, tôi rất tiếc. Đổi đề tài đi, cô muốn nói gì?"
"Đại học. Anh học đại học ở đâu?"
"Áo Tư Đình Bì. Trường luật ở Mạnh Phi Tư."
"Tôi từng luôn muốn học đại học, nhưng lại không học được. Anh là người Mạnh Phi Tư à?"
"Tôi sinh ở đây, lớn lên ở Nặc Khắc Tư Duy Nhĩ. Còn cô?"
"Sinh ở một thị trấn nhỏ cách đây 1 giờ. Sau khi mang thai tôi đã rời khỏi đó. Nhà tôi mất mặt, nhà anh ta vốn dĩ là một đống cặn bã. Chúng tôi đành phải đi."
Từ lời cô, có thể thấy dường như cô có những ân oán nặng nề với hai gia đình, chủ đề này tất nhiên tôi không muốn đi sâu. Chuyện mang thai cô đã nhắc đến hai lần, và cả hai lần đều đáng lẽ có thể tránh nhắc đến, nhưng cô quá cô đơn, cô muốn nói.
"Vậy nên cô chuyển đến Mạnh Phi Tư?"
"Chúng tôi trốn đến Mạnh Phi Tư, kết hôn dưới sự chủ trì của quan tòa, đám cưới cũng hoành tráng lắm, sau đó tôi sảy thai nên mất đứa bé."
"Chồng cô làm nghề gì?"
"Lái xe nâng. Suốt ngày say xỉn. Hậu duệ của người Scotland, bản lĩnh không có, nhưng lúc nào cũng mơ mộng được đánh bóng chày cho các câu lạc bộ lớn."
Tôi không hề muốn cô trả lời chi tiết đến thế. Tôi đoán, hồi cấp ba anh ta chắc là một vận động viên nổi tiếng, còn cô là đội trưởng đội cổ vũ xinh đẹp nhất. Đây là đôi nam nữ thanh niên Mỹ điển hình nhất, chàng trai và cô gái của trường cấp ba tại thị trấn hẻo lánh, một người đẹp trai nhất, một người xinh đẹp nhất. Khỏe mạnh nhất, có khả năng thành công nhất, cho đến một ngày tai họa ập đến: đêm đó không dùng bao cao su, hai người cùng gây ra lỗi lầm. Vì lý do nào đó, họ không muốn phá thai. Họ có thể đã tốt nghiệp cấp ba, hoặc chưa. Sau khi mất mặt, họ rời bỏ thị trấn hẻo lánh, thay tên đổi họ đến thành phố lớn Mạnh Phi Tư. Sau khi sảy thai, tình yêu lãng mạn cũng dần tan biến, thứ họ phải đối mặt lại là cuộc sống thực tế gian nan.
Anh ta vẫn mơ mộng đạt được danh tiếng và tiền bạc ở các câu lạc bộ bóng chày lớn. Còn cô thì vô hạn nhớ nhung những năm tháng vô lo vô nghĩ vừa mới trôi qua, mơ về giấc mơ đại học không bao giờ thực hiện được.
"Xin lỗi," cô nói. "Những chuyện này tôi không nên nói mới phải."
"Cô còn rất trẻ, vẫn có thể đi học đại học mà," tôi nói.
Nghe lời động viên này, cô khúc khích cười, như thể nói rằng cô đã sớm chôn vùi giấc mơ đó từ lâu. "Tôi còn chưa học xong cấp ba nữa là."
Về điều này tôi nên nói gì đây? Nói mấy câu sáo rỗng, bảo cô tự học thành tài? Đi lấy bằng tốt nghiệp phổ thông? Học đêm? Hay là "có chí thì nên"?
"Cô có đi làm không?" tôi lại hỏi.
"Thỉnh thoảng. Anh muốn làm luật sư kiểu gì?"
"Tôi thích tranh tụng. Tôi hy vọng có thể dành cả đời ở tòa án."
"Làm đại diện cho tội phạm à?"
"Có thể. Họ có quyền được bào chữa mạnh mẽ, họ cũng có quyền thắng kiện mà."
"Kẻ giết người?"
"Đúng. Nhưng hầu hết họ đều không thuê nổi luật sư riêng."
"Kẻ hiếp dâm và ấu dâm thì sao?"
Tôi nhíu mày im lặng một lúc. "Không."
"Kẻ đánh vợ?"
"Không, tuyệt đối không." Tôi cực kỳ nghiêm túc về chuyện này, hơn nữa chấn thương của cô ấy cũng khiến tôi nảy sinh chút nghi ngờ về chồng cô. Cô rất tán thành sự lựa chọn khách hàng của tôi.
"Số lượng vụ án hình sự rất ít," tôi giải thích. "Vụ kiện dân sự có lẽ tôi sẽ làm nhiều hơn."
"Kiện thay người khác?"
"Đúng, kiện thay người khác. Những vụ kiện phi hình sự."
"Vụ kiện ly hôn?"
"Tôi không muốn nhận mấy vụ này lắm. Vụ ly hôn quá gây khó chịu."
Cô đang cố lấy tôi làm trọng tâm cuộc trò chuyện, để tránh nhắc đến quá khứ, đặc biệt là hiện tại của cô. Điều này lại khá hợp với tôi. Nước mắt cô có thể trào ra bất cứ lúc nào, mà tôi thì không muốn phá hỏng cuộc trò chuyện này. Tôi ước có thể cứ trò chuyện thế này mãi.
Cô muốn biết về cuộc sống đại học của tôi: học tập, tiệc tùng, các câu lạc bộ, cuộc sống ký túc xá, thi cử, giáo sư, du lịch. Cô xem nhiều phim, có nhiều ý tưởng lãng mạn về cuộc sống đại học. Trong tâm trí cô, 4 năm đại học đẹp tuyệt vời; khuôn viên cổ kính tao nhã, lá xanh dần ngả vàng và đỏ vào mùa thu; sinh viên mặc áo thể thao cổ vũ cho đội bóng bầu dục của trường; tình bạn sinh viên sẽ xanh tươi mãi mãi. Cô gái đáng thương này, dù sau khi rời thị trấn hẻo lánh quê hương vẫn chưa đứng vững, nhưng lại có những giấc mơ đẹp đẽ. Cô nói chuyện ngữ pháp chuẩn xác, vốn từ vựng còn nhiều hơn cả tôi. Cô không mấy tự nguyện thừa nhận với tôi rằng, đáng lẽ cô đã tốt nghiệp cấp ba với vị trí thứ nhất hoặc thứ hai, nếu không phải vì đoạn tình cảm lãng mạn tuổi trẻ với ông Khắc Lợi Phất-Lại Khảo.
Tôi không tốn mấy sức lực để kể xong 4 năm đại học huy hoàng của mình. Nhưng vài sự thật quan trọng, ví dụ như để học xong đại học, tôi phải làm thêm 40 tiếng mỗi tuần để giao bánh pizza, tất nhiên là không hé nửa lời.
Cô cũng muốn biết về văn phòng của tôi. Tôi đang trong quá trình thay đổi hoàn toàn hình ảnh của Bố Lỗ Tác và văn phòng của ông ta thì chiếc điện thoại di động đặt cách hai cái bàn bỗng reo vang. Tôi nói với cô đây là điện thoại của văn phòng tìm tôi, xin cô thứ lỗi, rồi đi về phía chỗ ngồi của mình.
Là Bố Lỗ Tác. Ông ta đang ở tửu gia Vưu Cát, cùng với Phổ Lâm Tư đã uống say mèm. Tôi đang ngồi ở chỗ này, còn họ thì vừa uống rượu vừa cá cược những thứ phát trên tivi, điều này khiến họ rất khoái chí. Tiếng ồn ào truyền ra từ điện thoại khiến tôi cảm thấy ở tửu gia Vưu Cát như đang có một cuộc bạo loạn. "Câu cá thế nào rồi?" Bố Lỗ Tác hét vào điện thoại.
Tôi mỉm cười nhìn Khải Lệ, cuộc gọi này rõ ràng đã gây ấn tượng rất sâu sắc với cô. Tôi cố hạ thấp giọng nói với Bố Lỗ Tác: Ngay lúc này tôi đang nói chuyện với một khách hàng tiềm năng. Bố Lỗ Tác nghe xong cười lớn, đưa điện thoại cho Phổ Lâm Tư đang say khướt hơn. Phổ Lâm Tư kể một câu chuyện cười hoàn toàn không buồn cười, liên quan chút ít đến việc luật sư chạy theo xe cứu thương. Sau đó ông ta lại diễn thuyết về chuyện "tôi đã bảo rồi mà", giảng giải về lợi ích của việc làm việc với Bố Lỗ Tác: Những kiến thức luật mà Bố Lỗ Tác có thể dạy tôi còn nhiều hơn 50 giáo sư cộng lại. Màn này chiếm không ít thời gian, ông ta còn chưa nói xong thì người tình nguyện lớn tuổi của Khải Lệ đã đến đúng giờ, chuẩn bị đưa cô về phòng bệnh.
Tôi vội vàng bước vài bước về phía bàn cô, một tay che điện thoại, một tay nói với cô: "Gặp cô tôi rất vui."
Cô mỉm cười nói: "Cảm ơn đồ uống và cuộc trò chuyện của anh."
"Tối mai nhé?" tôi hỏi. Phổ Lâm Tư vẫn đang hét lớn bên tai tôi.
"Có lẽ vậy," cô nháy mắt với tôi đầy ẩn ý, đầu gối tôi nhũn ra.
Rõ ràng, người tùy tùng già mặc áo khoác hồng của cô đã ở gần đó khá lâu, đủ để phát hiện kẻ lừa đảo hay kẻ xấu nào đó. Ông ta cau mày nhìn tôi, nhanh chóng đẩy cô rời khỏi nhà hàng. Tuy nhiên, chắc chắn cô ấy sẽ còn quay lại.
Tôi nhấn một nút trên điện thoại, không đợi Phổ Lâm Tư nói xong liền ngắt máy. Nếu họ gọi lại, tôi cũng sẽ không trả lời. Nếu sau này họ nhớ ra chuyện này, tôi sẽ đổ lỗi cho công ty Sony. Tuy nhiên, liệu họ có nhớ ra không, tôi rất nghi ngờ về điều đó.
Đậu Đậu Thư Khố sưu tầm và biên soạn.