Siêu thuyết khách

Lượt đọc: 26 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Tiết 06

❊ ❊ ❊

Nhà của bà Birdsong nằm ở trung tâm thành phố. Đây là một khu dân cư lâu đời dành cho giới thượng lưu ở Memphis, cách trường Luật chỉ hai ba dặm. Hai bên đường trồng những cây sồi cổ thụ cao lớn, tạo cho người ta cảm giác tách biệt với thế giới bên ngoài. Một vài căn nhà trông rất đẹp đẽ, bãi cỏ được cắt tỉa phẳng phiu, những chiếc xe hơi sang trọng đỗ trên lối đi tỏa sáng lấp lánh. Một số căn dường như đã không còn người ở, đang rụt rè nhìn ra ngoài qua những tán lá rậm rạp và những bụi cây dại mọc um tùm. Một số căn khác thì nằm ở lưng chừng giữa hai trạng thái đó. Dinh thự của bà Birdsong là một kiến trúc kiểu Victoria màu trắng, được xây bằng đá từ cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này. Hiên nhà uốn lượn rất rộng, nhìn không thấy điểm cuối. Ngôi nhà cần được sơn lại, mái nhà cần thay mới, sân vườn cũng cần tu sửa. Cửa sổ ảm đạm, máng xối nghẹt đầy lá rụng, nhưng chỉ cần nhìn thoáng qua là biết có người ở đây và đang cố gắng duy trì nó. Hai bên lối xe vào là những hàng rào cây cối lộn xộn. Tôi đỗ xe phía sau một chiếc Cadillac cũ kỹ, chiếc xe đắt tiền này chắc cũng đã chạy được khoảng 10 năm rồi.

Tôi bước trên những tấm ván hiên kêu cọt kẹt, đi về phía cửa trước, mắt nhìn quanh quất, sợ rằng bất cứ lúc nào cũng có thể có một con chó dữ nanh vuốt sắc nhọn lao ra. Trời đã khá muộn, gần như tối hẳn, nhưng trên hiên lại không có ánh đèn. Cánh cửa gỗ dày nặng đang mở, qua lớp cửa lưới, tôi có thể nhìn thấy một tiền sảnh nhỏ. Vì không tìm thấy nút chuông cửa, tôi nhẹ nhàng gõ tay vào cửa lưới, nó phát ra hai tiếng cạch cạch. Tôi nín thở; không có tiếng chó dữ sủa vang lao ra.

"Ai đó?" Một giọng nói quen thuộc cất tiếng hỏi lớn.

"Là bà Birdsong ạ?"

Tôi thấy có người chậm rãi đi qua tiền sảnh, bật một ngọn đèn lên. Không ai khác chính là bà Birdsong, trên người vẫn mặc bộ váy cotton hôm qua ở tòa nhà dành cho người cao tuổi Cypress Gardens. Bà nheo mắt nhìn ra ngoài cửa.

"Cháu là Rudy Baylor, sinh viên trường Luật đã nói chuyện với bà ngày hôm qua ạ."

"Rudy!" Việc bà tỏ ra vui mừng khôn xiết khi gặp tôi khiến tôi cảm thấy hơi ngượng ngùng, nhưng trong khoảnh khắc, một nỗi buồn khó hiểu bất chợt dâng trào trong lòng. Bà sống cô độc một mình trong dinh thự khổng lồ này, và tin chắc rằng con cháu đã vứt bỏ mình. Nội dung chính trong cuộc sống của bà chỉ là chăm sóc những người già bị xã hội bỏ rơi, cùng họ ăn bữa trưa, hát một hai bài ca. Bà Birdsong là một người già vô cùng cô đơn.

Bà vội vàng mở cửa lưới. "Vào đi, vào đi." Bà liên tục nhắc lại, trong giọng nói không có chút ngạc nhiên nào. Bà nắm lấy khuỷu tay tôi, dẫn tôi đi qua tiền sảnh và hành lang, bật đèn dọc đường đi. Trên tường treo đầy những bức ảnh cũ của gia đình, thảm bám đầy bụi bẩn, lộ ra những sợi chỉ tưa. Trong nhà tỏa ra mùi ẩm mốc. Đây là một ngôi nhà cũ kỹ thiếu sự chăm sóc, cần phải quét dọn nghiêm túc và cải tạo toàn diện.

"Cảm ơn cháu đã ghé thăm bà." Bà nói một cách thân thiết, một tay vẫn nắm lấy cánh tay tôi. "Hôm qua cháu có vui khi ở cùng chúng tôi không?"

"Rất vui ạ, thưa bà."

"Cháu sẽ còn đến thăm chúng tôi chứ?"

"Cháu không thể chờ đợi được nữa ạ."

Bà dẫn tôi đến bên chiếc bàn trong bếp ngồi xuống. "Cà phê hay trà?" Bà hỏi, vừa nhảy chân sáo đến bên tủ, nhấn nút bật đèn điện cái "tạch".

"Cà phê ạ." Tôi vừa quan sát căn bếp vừa nói.

"Cà phê hòa tan được không?"

"Dạ được." Học trường Luật 3 năm, tôi đã chẳng còn phân biệt được vị của cà phê hòa tan và cà phê pha phin nữa rồi.

"Cho sữa hay đường?" Bà vừa hỏi vừa đưa tay về phía tủ lạnh.

"Cháu uống cà phê đen ạ."

Bà đặt nước lên bếp, bày hai tách cà phê, rồi ngồi đối diện tôi. Bà tươi cười rạng rỡ, tôi khiến bà vui vẻ từ tận đáy lòng.

"Gặp cháu bà thật sự rất vui," bà nói, không biết là lần thứ ba hay thứ tư rồi.

"Nhà bà đáng yêu thật đấy, bà Birdsong." Tôi hít bầu không khí đầy mùi ẩm mốc và nói.

"Ồ, cảm ơn cháu. Đây là ngôi nhà Thomas và bà mua từ 50 năm trước đấy."

Những chiếc nồi và ấm, bồn rửa và vòi nước, bếp và lò nướng trong bếp, tất cả mọi thứ đều đã được dùng ít nhất 50 năm. Chiếc tủ lạnh kia có lẽ là sản phẩm từ đầu những năm 60.

"Thomas qua đời 11 năm trước rồi. Chúng tôi đã nuôi dạy hai đứa con trai nên người trong ngôi nhà này, nhưng thôi, đừng nhắc đến chúng nữa." Gương mặt tươi tỉnh của bà đột nhiên trầm xuống, nhưng rất nhanh sau đó lại lộ ra nụ cười.

"Vâng, tất nhiên là không nhắc đến thì tốt hơn."

"Chúng ta hãy nói về cháu đi." Bà nói. Chủ đề này tôi lại muốn tránh né hơn.

"Được ạ. Sao lại không chứ?" Tôi căng thẳng thần kinh, chuẩn bị đối phó với những câu hỏi của bà.

"Cháu là người ở đâu?"

"Cháu sinh ra ở Memphis, nhưng lớn lên ở Knoxville ạ."

"Tuyệt quá. Thế cháu học đại học ở đâu?"

"Austin Peay ạ."

"Austin cái gì cơ?"

"Austin Peay. Trường nhỏ lắm, ở Clarksville. Là trường do chính quyền bang tài trợ ạ."

"Tuyệt quá. Thế tại sao cháu lại chọn trường Luật của Đại học bang Memphis?"

"Vì đó thực sự là một ngôi trường tốt, hơn nữa cháu lại thích Memphis." Thực tế, còn hai lý do khác: Đại học bang Memphis đã nhận cháu, và trường này cháu có đủ khả năng chi trả học phí.

"Tuyệt quá. Khi nào cháu tốt nghiệp?"

"Vài tuần nữa thôi ạ."

"Vậy là cháu sẽ trở thành luật sư thực thụ rồi. Tuyệt quá. Cháu định làm việc ở đâu?"

"Ừm, cái này cháu vẫn chưa chắc chắn lắm. Gần đây cháu đã suy nghĩ rất nhiều, bà biết đấy, về việc tự treo biển mở văn phòng riêng. Cháu thuộc kiểu người thích độc lập, cháu nghĩ e là mình không thể làm việc dưới quyền người khác. Cháu muốn tự phát triển công việc luật sư theo cách riêng của mình."

Bà mở to mắt nhìn chằm chằm vào tôi. Nụ cười biến mất. Đôi mắt nhìn thẳng vào tôi không hề chớp. Bà bối rối. "Vậy cũng tuyệt đấy." Nói xong, bà liền đứng dậy đi pha cà phê.

Nếu vị quý bà nhỏ nhắn và ngọt ngào này thực sự sở hữu hàng triệu đô la, thì những trò bà diễn để che đậy sự thật quả thực là quá tuyệt vời. Tôi cẩn thận quan sát căn phòng này. Chiếc bàn mà tôi đang đặt khuỷu tay lên đây, bốn chân làm bằng nhôm, lớp nhựa Formica trên mặt bàn đã cũ nát. Mỗi cái đĩa, mỗi món đồ bếp, mỗi dụng cụ, mỗi loại trang trí, không cái nào không phải mua từ mấy chục năm trước. Bà sống trong một ngôi nhà cũ kỹ thiếu sự chăm sóc, lái một chiếc xe cũ. Trong nhà rõ ràng không có người giúp việc hay quản gia, cũng không có mèo hay chó xinh xắn nào.

"Tuyệt quá." Bà đặt hai chiếc tách lên bàn, nói lại lần nữa. Trong tách không có hơi nóng bốc lên, tách của tôi chỉ hơi ấm, cà phê rất nhạt, đã mất hết vị.

"Cà phê ngon lắm ạ." Tôi chép miệng nói.

"Cảm ơn. Vậy là cháu định tự mở một văn phòng nhỏ à?"

"Cháu có cân nhắc việc đó. Ban đầu, bà biết đấy, sẽ rất khó khăn; nhưng chỉ cần cháu chăm chỉ nỗ lực, đối xử công bằng với mọi người, thì cháu không sợ không thu hút được khách hàng."

Bà cười lộ răng một cách chân thành, sau đó chậm rãi lắc đầu. "Ừm, điều này quả thực rất tuyệt, Rudy. Cháu rất dũng cảm. Bà nghĩ ngành luật cần nhiều người trẻ như cháu hơn."

Ngành này chẳng cần người như tôi đâu. Tôi chẳng qua chỉ là một gã thanh niên đói khát, tham lam, suốt ngày lang thang trên phố, nhặt nhạnh cơ hội kiện tụng như nhặt rác, tìm mọi cách gây chuyện để vắt ra vài giọt dầu từ những khách hàng không xu dính túi.

"Có lẽ bà muốn biết mục đích cháu đến đây," tôi nhấp cà phê và nói.

"Cháu đến là bà vui rồi."

"Vâng, được gặp lại bà đúng là rất tuyệt. Nhưng, cháu đến đây là để nói chuyện về di chúc của bà. Tối qua cháu ngủ không ngon, cháu lo lắng cho tài sản của bà."

Mắt bà rưng rưng. Câu nói này khiến bà vô cùng cảm động.

"Có vài việc khiến cháu đặc biệt bất an," tôi giải thích, vừa nhíu mày, cố gắng bày ra vẻ mặt của một luật sư. Tôi rút bút máy từ trong túi ra, cầm trên tay, như thể đã sẵn sàng hành động. "Trước hết, xin bà thứ lỗi khi nói điều này, nhưng nhìn thấy bà hay bất kỳ thân chủ nào áp dụng những biện pháp nghiêm khắc như vậy đối với thành viên gia đình, cháu thực sự cảm thấy không ổn. Cháu nghĩ chúng ta nên thảo luận chi tiết về điểm này." Bà mím chặt môi, không lên tiếng. "Thứ hai, cháu phải xin bà thứ lỗi lần nữa, nhưng nếu không nói ra, với tư cách là luật sư, cháu sẽ cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Ý cháu là: để cháu soạn thảo di chúc hay văn bản khác, chuyển nhượng phần lớn tài sản cho một nhân vật nổi tiếng trên truyền hình, cháu cảm thấy thực sự khó mà đặt bút viết nổi."

"Ông ấy là đầy tớ của Chúa," bà lập tức đứng lên bảo vệ danh dự cho mục sư Kenneth Chandler, nhấn mạnh giọng nói.

"Cháu biết điều đó. Nhưng tại sao lại phải cho ông ta tất cả, bà Birdsong? Tại sao không cho 25%, hoặc một con số hợp lý khác?"

"Ông ấy chi tiêu rất nhiều. Hơn nữa chiếc máy bay phản lực của ông ấy cũng cũ rồi. Ông ấy đã kể cho bà nghe mọi chuyện."

"Được ạ. Nhưng Chúa đâu có bảo bà phải tài trợ cho tất cả những đồng nghiệp của vị mục sư này?"

"Chúa nói gì với bà, bà không thể tiết lộ. Cảm ơn cháu đã quan tâm."

"Tất nhiên rồi ạ. Ý cháu bà chắc chắn cũng hiểu, bà Birdsong, nhưng sự thật là: có rất nhiều mục sư đã tha hóa. Họ lăng nhăng với đàn bà khác, họ vung tiền qua cửa sổ, mua nhà, mua xe, mua quần áo đẹp, đi nghỉ mát, sống cuộc sống xa hoa trụy lạc. Rất nhiều người trong số họ là những kẻ lừa đảo."

"Ông ấy không phải kẻ lừa đảo!"

"Cháu không hề nói ông ta là vậy ạ."

"Vậy ý cháu nói những lời này là sao?"

"Chẳng có ý gì cả." Tôi nói, sau đó uống một ngụm cà phê lớn. Bà không nổi giận, nhưng cảm xúc cũng chẳng kém giận là bao. "Cháu đến đây với tư cách là luật sư của bà, bà Birdsong, ngoài ra không có ý gì khác. Bà nhờ cháu chuẩn bị di chúc, việc cân nhắc mọi nội dung trong di chúc là trách nhiệm không thể thoái thác của cháu. Và cháu rất nghiêm túc với trách nhiệm mình đảm nhận."

Đôi môi đang mím chặt của bà giãn ra, ánh mắt bà lại trở nên dịu dàng như trước. "Tuyệt quá," bà nói.

Tôi nghĩ, nhiều người già giàu có như bà Birdsong, đặc biệt là những người từng nếm trải khổ cực thời Đại suy thoái, sau đó tự mình làm giàu, sẽ giữ chặt túi tiền của mình, giữ thái độ cảnh giác cao độ với kế toán, luật sư và những chủ ngân hàng không thân thiện. Nhưng bà Birdsong thì không như vậy. Bà ngây thơ và cả tin như một góa phụ nghèo sống dựa vào lương hưu vậy. "Ông ấy cần số tiền đó," bà vừa nói vừa nhấp một ngụm cà phê, nhìn tôi bằng ánh mắt nghi hoặc.

"Chúng ta nói chuyện tiền bạc được không ạ?"

"Sao các luật sư các cháu cứ thích nói về tiền thế nhỉ?"

"Vì có lý do chính đáng thôi ạ, bà Birdsong. Chỉ cần sơ suất một chút, chính phủ sẽ cắt mất một miếng thịt béo bở từ tài sản của bà đấy. Bây giờ có thể tính toán một chút trên số tiền của bà, nếu cân nhắc kỹ lưỡng, có thể giảm bớt một khoản thuế thừa kế khổng lồ."

Bà nghe xong tỏ ra không vui. "Mấy lời lẽ pháp lý đó, nói nửa ngày bà cũng chẳng hiểu mô tê gì."

"Cháu đến đây chính là để giúp bà một tay mà, bà Birdsong."

"Bà thấy cháu là muốn trong di chúc cũng có tên mình thì có," bà nói. Vẫn không hài lòng với những phiền toái về pháp luật.

"Sao cháu lại nghĩ thế được ạ!" Tôi vừa cố gắng tỏ ra vô cùng sửng sốt, vừa cố gắng che giấu sự ngạc nhiên khi bị bà nhìn thấu.

"Không có luật sư nào là không muốn đưa tên mình vào di chúc của bà cả."

"Cháu rất tiếc, bà Birdsong, quả thực có một đám luật sư lừa đảo."

"Mục sư Chandler cũng nói y như vậy."

"Điều này thì cháu tin. Nào, cháu không muốn biết chi tiết, nhưng bà có thể cho cháu biết tiền của bà được giữ dưới hình thức nào không, là bất động sản, cổ phiếu chứng khoán, tiền mặt, hay khoản đầu tư nào khác? Hiểu rõ tiền được cất giữ thế nào là cực kỳ quan trọng đối với việc hoạch định di sản."

"Tất cả ở một nơi."

"Dạ. Nơi nào ạ?"

"Atlanta."

"Atlanta ạ?"

"Đúng vậy. Chuyện này dài dòng lắm, Rudy ạ."

"Kể cho cháu nghe được không ạ?"

Bà Birdsong lúc này không giống hôm qua ở Cypress Gardens, bà hiện tại có rất nhiều thời gian. Bà không có nhiệm vụ nào khác. Bosco không có ở đó. Không cần bà giám sát việc dọn dẹp sau bữa trưa, cũng không cần bà làm trọng tài cho các cuộc thi đấu cờ.

Bà chậm rãi xoay tách cà phê trong tay, cúi đầu nhìn mặt bàn, lặng lẽ hồi tưởng lại mọi chuyện đã qua. "Không một ai biết chuyện này," giọng bà nhẹ bẫng, bộ răng giả trong miệng va vào nhau một hai lần. "Ít nhất là ở Memphis không một ai biết."

"Sao lại thế được ạ?" Tôi hỏi, có lẽ hơi vội vàng.

"Các con của bà không hề hay biết gì."

"Không biết gì về tiền bạc ạ?" Tôi không tin hỏi lại.

"Ồ, chúng cũng biết một chút về tiền bạc. Thomas làm việc rất chăm chỉ, chúng tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiền. Khi ông ấy qua đời 11 năm trước, ông ấy đã để lại cho bà gần 100.000 đô la tiền tiết kiệm. Hai đứa con trai của bà, đặc biệt là vợ của chúng, tin rằng số tiền này hiện đã tăng lên 500.000 đô la. Nhưng chúng không biết gì về chuyện ở Atlanta cả. Cho bà thêm chút cà phê nhé?" Bà đã đứng dậy.

"Dạ." Bà cầm tách của tôi đi về phía tủ, cho thêm nửa thìa cà phê, rót đầy nước sôi không nóng cũng không lạnh, rồi lại bước quay lại. Tôi dùng thìa khuấy cà phê, dáng vẻ như đang chuẩn bị thưởng thức một tách cà phê Ý Cappuccino thơm ngon, đậm đà và nóng hổi.

Tôi nhìn thẳng vào mắt bà, trong lòng đầy sự đồng cảm. "Vâng, bà Birdsong. Nếu chuyện này khiến bà quá đau lòng, chúng ta có thể bỏ qua nó. Bà biết đấy, nói về những vấn đề mấu chốt là được rồi."

"Đây là tài sản mà, sao bà lại đau lòng?"

Này, điều này trùng khớp với suy nghĩ của tôi. "Được ạ. Vậy xin bà cho cháu biết, không cần quá cụ thể, cho cháu biết tiền được đầu tư thế nào. Cháu đặc biệt quan tâm đến bất động sản." Những gì cháu nói là thật lòng. Tiền mặt hay các tài sản lưu động khác thường luôn được xử lý để nộp thuế trước, còn bất động sản mới là quân bài cuối cùng. Vì vậy cháu đưa ra những câu hỏi này tuyệt đối không chỉ vì tò mò.

"Bà chưa bao giờ kể chuyện tiền bạc với bất kỳ ai." Bà nói, giọng vẫn rất nhẹ.

"Nhưng hôm qua bà nói bà đã nói chuyện với Kenneth Chandler rồi mà."

Bà xoay xoay tách cà phê trên mặt nhựa Formica, rất lâu không trả lời. "Đúng, bà nghĩ bà đã nói chuyện với ông ấy. Nhưng bà không chắc liệu mình đã kể hết mọi chuyện với ông ấy chưa. Rất có thể bà đã nói dối một chút. Hơn nữa tiền từ đâu ra, bà chắc chắn chưa kể cho ông ấy nghe."

"Vâng. Từ đâu ra ạ?"

"Người chồng thứ hai của bà."

"Người chồng thứ hai ạ?"

"Đúng. Tony."

"Thomas và Tony ạ?"

"Đúng. Khoảng hai năm sau khi Thomas qua đời, bà kết hôn với Tony. Ông ấy là người Atlanta, chúng tôi quen nhau khi ông ấy đi ngang qua Memphis. Chúng tôi sống cùng nhau được 5 năm. Chiến tranh nổ ra liên miên, sau đó ông ấy bỏ đi, quay về Atlanta. Ông ấy là một kẻ nghèo kiết xác, trong mắt chỉ có tiền của bà."

"Cháu hoang mang quá! Cháu tưởng bà vừa nói tiền là từ phía Tony mà."

"Bà đã nói vậy, nhưng bà không nói là chính ông ấy biết điều đó. Chuyện dài lắm. Có vài di sản gì đó, Tony không biết, bà cũng không biết. Tony có một người anh trai giàu có, đó là một kẻ điên, cả nhà bọn họ đều là lũ điên, thật đấy. Ngay trước khi Tony qua đời, ông ấy đã thừa kế một khoản tiền từ người anh trai điên khùng kia. Ý bà là, hai ngày trước khi Tony nhắm mắt xuôi tay, anh trai ông ấy đã qua đời ở Florida trước. Khi Tony chết không để lại di chúc, ngoài một người vợ ra chẳng để lại gì cả. Mà người vợ đó chính là bà. Thế nên họ liên lạc với bà từ Atlanta, một văn phòng luật sư lớn liên lạc với bà, nói với bà rằng, theo luật bang Georgia, bà hiện đang sở hữu một khoản tiền lớn."

"Bao nhiêu tiền ạ?"

"Nhiều hơn số Thomas để lại cho bà nhiều lắm. Tuy nhiên, bà chưa bao giờ kể với người khác, chỉ bây giờ mới kể cho cháu nghe. Cháu sẽ không nói ra đâu, đúng không, Rudy?"

"Bà Birdsong, với tư cách là luật sư của bà, cháu không thể nói cho người khác biết. Cháu đã thề, phải giữ im lặng. Đây là quyền từ chối tiết lộ thông tin giữa luật sư và thân chủ."

"Tuyệt quá."

"Sao bà không kể với luật sư cũ của bà?" Tôi hỏi.

"Ồ, ông ta á. Không tin được. Bà chỉ nói với ông ta số tiền để lại cho các con, không nói ra tổng số. Thế mà ngay khi ông ta tính ra bà có tiền, ông ta liền đòi bà đưa cả tên ông ta vào di chúc."

"Nhưng chắc chắn bà không kể hết mọi chuyện cho ông ta chứ?"

"Tuyệt đối không."

"Bà không nói cho ông ta tổng số tiền ạ?"

"Không."

Nếu cháu tính không sai, tổng số tiền bà để lại cho con cháu trong bản di chúc cũ đó ít nhất là 20 triệu. Vậy nên người đồng nghiệp soạn thảo di chúc đó ít nhất cũng biết con số này. Bây giờ vấn đề rõ ràng là: Vị quý bà nhỏ nhắn đáng yêu này rốt cuộc có tổng cộng bao nhiêu tiền?

"Bà định nói cho cháu biết tổng số tiền không ạ?"

"Có lẽ ngày mai, Rudy ạ. Có lẽ ngày mai sẽ nói cho cháu biết."

Chúng tôi rời khỏi bếp, đi về phía sân sau. Bà vừa lắp đặt một hệ thống tưới nước mới bên cạnh những bụi hoa hồng, muốn cho cháu được mãn nhãn. Tôi tập trung chú ý quan sát cẩn thận, đồng thời dùng những lời lẽ hoa mỹ nhiệt tình khen ngợi nó một hồi lâu.

Đối với cháu, bây giờ mọi thứ đã rõ ràng. Bà Birdsong là một bà lão giàu có, nhưng bà không muốn bất kỳ ai, đặc biệt là gia đình mình biết bà có tiền. Bà luôn sống cuộc sống thoải mái, và hiện tại với tư cách là một góa phụ 80 tuổi sống dựa vào số tiền tiết kiệm dư dả, bà chưa từng gây ra bất kỳ sự nghi ngờ nào.

Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế sắt được trang trí lộng lẫy, nhấp tách cà phê không chút hơi nóng trong bóng tối, cho đến cuối cùng cháu tìm được một loạt lý do để chuồn đi.

Để duy trì lối sống giàu có của chính mình, trong 3 năm qua, cháu vừa làm bồi bàn vừa làm phục vụ tại quán rượu Yogi gần trường. Nơi thường xuyên lui tới của sinh viên này nổi tiếng với món bánh hamburger hành tây kèm nước sốt và bia tươi phục vụ vào ngày lễ Thánh Patrick. Từ lúc bắt đầu bữa trưa cho đến khi đóng cửa, trong suốt thời gian hoạt động dài dằng dặc, lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt. Một lon bia nhạt chỉ bán một đô la vào đêm "Monday Night Football", những lúc khác thì bán hai đô la.

Chủ quán tên là Prince Thomas, một gã quái đản với mái tóc đuôi ngựa, người thô kệch to lớn, mà sự tự phụ của gã còn lớn hơn cả vóc dáng của gã. Gã là một trong những kẻ có quyền lực ở Memphis, thích làm những việc khác người, để ảnh của mình được in trên báo, để khuôn mặt tôn quý của mình xuất hiện trên bản tin truyền hình buổi tối. Gã tổ chức các cuộc thi uống bia giữa các quán và thi áo phông ướt. Gã từng yêu cầu chính quyền thành phố cho phép quán rượu của mình mở cửa thâu đêm, mà chính quyền lại khởi tố gã, buộc tội gã phạm đủ loại tội danh. Gã thích bị khởi tố. Chỉ cần cháu nói ra tội danh của gã, gã có thể tổ chức một nhóm người, tìm cách hợp pháp hóa nó.

Prince quản lý quán rượu Yogi khá lỏng lẻo. Những nhân viên như chúng tôi tự định thời gian làm việc, tự xử lý tiền tip, ai làm việc nấy, rất ít khi có người can thiệp giám sát. Hơn nữa công việc cũng không phức tạp. Chỉ cần trên quầy có đủ bia, trong bếp có đủ thịt bò băm, quán rượu sẽ vận hành trơn tru. Prince thích bận rộn ở quầy, đón tiếp những nữ sinh xinh đẹp, dẫn họ vào chỗ ngồi, tán tỉnh họ, và thường luôn khiến bản thân xấu mặt. Gã thích ngồi ở chiếc bàn gần màn hình lớn, cá độ với người khác về các trận đấu thể thao đang phát. Gã vạm vỡ, cánh tay to khỏe, thỉnh thoảng khi quán xảy ra ẩu đả cũng sẽ đứng ra ngăn cản.

Prince còn có mặt tối hơn không thể nhìn thấy được. Có lời đồn rằng gã dính líu đến ngành công nghiệp tình dục. Trong thành phố này, các câu lạc bộ thoát y phát triển rất mạnh, mà những kẻ gọi là đối tác của gã đều có tiền án. Điều này thường xuyên nghe thấy trên báo. Gã từng ra tòa hai lần, một lần vì đánh bạc, một lần vì làm đại lý ghi tỷ lệ cá cược, nhưng cả hai lần xét xử đều không đi đến kết quả vì bồi thẩm đoàn không thể đạt được sự đồng thuận. Sau 3 năm làm công cho gã, cháu đã tin chắc vào hai điều. Một là tiền mặt mà quán Yogi thu được, phần lớn gã không ghi vào sổ sách. Cháu ước tính mỗi tuần ít nhất là 2.000 đô la, một năm lên tới con số 100.000 đô la. Hai là gã dùng quán Yogi để che đậy vương quốc thối nát nhỏ bé của mình, thông qua đó rửa tiền, và làm cho nó có vẻ như kinh doanh thua lỗ để trốn thuế. Gã có một văn phòng dưới tầng hầm, ngay tại căn phòng không có cửa sổ vô cùng an toàn đó, gã gặp gỡ đám bạn bè xấu xa của mình.

Tôi chẳng quan tâm đến những chuyện đó. Ông ấy đối xử với tôi vẫn luôn rất tốt. Mỗi giờ tôi kiếm được 5 đô, một tuần làm khoảng 20 tiếng. Vì khách hàng toàn là sinh viên nên tiền boa chẳng được bao nhiêu. Trong kỳ thi, tôi có thể đổi ca. Mỗi ngày có ít nhất 5 sinh viên đến xin việc. Thế nên có được công việc này, tôi đã thấy mình may mắn lắm rồi.

Hơn nữa, bất kể quán rượu Yogi có thể còn giở trò gì khác, thì nơi đây vẫn là chỗ mà sinh viên thường xuyên lui tới. Một năm trước, Prince đã sơn lại quán theo màu cờ của trường Đại học Bang Memphis, phối hai màu xanh xám, trông mới mẻ hẳn ra. Trên tường treo đầy cờ lưu niệm của các đội bóng và ảnh các ngôi sao thể thao lồng trong khung kính. Ảnh của những đối thủ đáng gờm cũng nhan nhản khắp nơi. Quán lại nằm rất gần trường học nên lúc nào cũng chật kín sinh viên, họ ngồi đây cười đùa tán tỉnh, có khi ngồi lì cả mấy tiếng đồng hồ.

Tối nay Prince đang xem một trận bóng. Mùa giải bóng chày vừa mới bắt đầu không lâu, nhưng ông ấy đã khẳng định chắc nịch rằng đội Braves chắc chắn sẽ lọt vào vòng chung kết mùa thu. Cứ hễ có trận đấu nào là ông ấy lại muốn cá cược với người khác, nhưng đội bóng ông thích nhất vẫn là Braves. Dù họ đấu với ai, đấu ở đâu, ai ném bóng, ai bị thương, tất cả những điều đó đối với Prince chẳng có ý nghĩa gì cả, ông ấy cứ mặc định đặt cược vào đội Braves.

Đêm nay tôi trực ở quầy bar. Nhiệm vụ chính của tôi là luôn để mắt đến ly rượu rum pha nước ngọt của ông ấy, thấy vơi là phải châm đầy. Khi Dave Justice đánh một cú home run đẹp mắt, ông ấy sung sướng hét lên một tiếng thật dài, rồi nhận lấy mấy tờ tiền từ tay một sinh viên. Họ cá xem ai sẽ là người đánh cú home run trước, là Dave Justice hay Barry Bonds? Tôi từng thấy ông ấy cá cược bằng những đề tài còn nực cười hơn thế: trong hiệp thứ ba, quả bóng đầu tiên ném cho người đánh bóng thứ hai sẽ là bóng hỏng hay bóng tốt?

Tối nay tôi may mắn không phải phục vụ khách ở sảnh chính. Đầu vẫn còn đau, tôi phải cố gắng đi lại ít thôi. Hơn nữa, tôi có thể lấy bia từ trong tủ lạnh ra, thỉnh thoảng nhấp vài ngụm. Prince chẳng bận tâm chuyện nhân viên của mình thỉnh thoảng "chôm" chút rượu.

Sau này tôi sẽ nhớ công việc này lắm. Có lẽ vậy chăng?

Ở dãy ghế toa tàu phía trước là mấy sinh viên trường luật. Những gương mặt quen thuộc đó, tôi thà tránh mặt còn hơn. Họ đều là bạn học của tôi, sinh viên năm ba, và có lẽ đều đã tìm được việc làm rồi.

Khi bạn còn là sinh viên năm dưới, làm phục vụ bàn hay chạy bàn cũng chẳng có gì đáng nói, và làm việc ở Yogi thực ra còn có điểm hay ho riêng. Nhưng chưa đầy một tháng nữa là tôi tốt nghiệp, đến lúc đó cái điểm hay ho ấy sẽ đột ngột biến mất, hoàn cảnh của tôi sẽ còn tệ hơn cả một sinh viên đang chật vật vì khó khăn. Tôi sẽ trở thành kẻ thất bại trong cuộc cạnh tranh, một con số thống kê, thêm một cử nhân luật nữa bị đào thải trong quá trình sàng lọc của ngành luật—

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026