Siêu thuyết khách

Lượt đọc: 26 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Tiết 01

❊ ❊ ❊

Tôi quyết tâm trở thành luật sư, và khi nhận ra cha mình căm ghét cái nghề này đến nhường nào, thì mọi thứ đã không thể thay đổi được nữa. Lúc đó, tôi là một gã thanh niên cao lớn, vụng về. Sự vụng về khiến tôi lúng túng, cuộc sống khiến tôi chán nản, sự xuất hiện của tuổi dậy thì càng làm tôi khiếp sợ. Hơn nữa, vì không chịu nghe lời, tôi sắp bị cha tống vào một trường quân sự. Cha tôi là cựu lính thủy đánh bộ, tôn thờ triết lý "không đánh không thành tài". Còn tôi khi ấy đã luyện được cái lưỡi sắc bén và thói ngang bướng, thế nên ông muốn tống khứ tôi đi cho rảnh nợ. Mãi nhiều năm sau, tôi mới tha thứ cho ông.

Cha tôi cũng là một kỹ sư công nghiệp, làm việc 70 tiếng mỗi tuần tại một công ty. Công ty đó sản xuất rất nhiều mặt hàng, trong đó có thang. Vì bản thân thang vốn tiềm ẩn nguy hiểm, công ty của ông thường xuyên trở thành mục tiêu của các vụ kiện tụng. Và vì cha tôi là người chịu trách nhiệm thiết kế, ông trở thành lựa chọn hàng đầu để đại diện cho công ty trong các phiên lấy lời khai và xét xử. Tôi không thể nói rằng mình trách ông vì ông ghét luật sư, nhưng chính họ đã làm đảo lộn cuộc sống của ông, còn tôi thì lại nảy sinh sự ngưỡng mộ đối với họ. Ông thường tranh cãi với họ suốt 8 tiếng ở tòa, rồi vừa bước chân vào nhà là nốc cạn ly Martini.

Công ty đó sau này phá sản, mọi lời chỉ trích tất nhiên đều đổ dồn lên đầu đám luật sư. Còn việc quản lý yếu kém có thể là một nguyên nhân dẫn đến phá sản hay không, thì tôi chưa từng nghe ông nhắc đến bao giờ.

Rượu mạnh trở thành cuộc sống của ông. Ông trở nên chán chường, suốt mấy năm trời không có nổi một công việc ổn định, điều này thực sự khiến tôi phát cáu, vì tôi phải làm phục vụ bàn và giao bánh pizza chật vật lắm mới học xong đại học. Tôi nghĩ, trong suốt 4 năm đại học, tôi và ông chắc chỉ nói chuyện với nhau được hai lần. Ngày nhận được giấy báo trúng tuyển trường luật, tôi mang tin trọng đại đó về nhà. Mẹ sau này kể lại, ông đã nằm liệt giường suốt cả tuần.

Đúng hai tuần sau lần khải hoàn đó của tôi, một hôm, khi ông đang thay bóng đèn trong kho chứa đồ, chiếc thang dưới chân đột ngột đổ sập (tôi thề là chuyện này có thật), ông ngã lộn nhào xuống. Ông nằm bất tỉnh nhân sự trong một viện điều dưỡng tư nhân suốt một năm trời, cho đến ngày một người từ bi nào đó để ông trút hơi thở cuối cùng.

Vài ngày sau tang lễ, tôi đề nghị có thể kiện đòi bồi thường, nhưng mẹ nhất quyết không chịu. Còn tôi thì vẫn luôn nghi ngờ, lúc ngã khỏi thang, có lẽ ông vẫn đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa say. Hơn nữa, ông lại không có nghề nghiệp, chẳng kiếm được đồng nào. Theo hệ thống bồi thường thiệt hại của chúng tôi, mạng sống của ông chẳng có giá trị kinh tế gì cả.

Mẹ tôi nhận được khoản bồi thường bảo hiểm nhân thọ tổng cộng 50.000 đô la, sau đó liền tái giá một cách khó chịu. Cha dượng tôi là một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu, sinh ra ở Toledo, tính tình rất đơn giản. Phần lớn thời gian họ vui vẻ nhảy múa hoặc lái chiếc Winnebago đi du lịch khắp nơi. Mối quan hệ giữa tôi và họ rất lạnh nhạt. Mẹ không cho tôi lấy một xu, bảo rằng bà phải dựa vào số tiền này để sống cả đời, còn tôi đã chứng minh được dù không có tiền vẫn sống rất ổn, nên bà cảm thấy tôi không cần phải chia chác tiền của bà. Bà khuyên tôi rằng, tôi có một tương lai huy hoàng, có thể kiếm được rất nhiều tiền, còn bà thì không. Tôi dám chắc Hank, chính là người chồng mới của bà, đang rót đầy những lời khuyên về tài chính vào tai bà. Một ngày nào đó trong tương lai, con đường của chúng tôi sẽ lại giao nhau, con đường của tôi và của Hank.

Tháng 5 này tôi sẽ tốt nghiệp trường luật, chỉ còn một tháng nữa. Sau đó còn phải tham gia kỳ thi tư pháp vào tháng 7. Tôi không thể tốt nghiệp với thành tích xuất sắc, nhưng xếp hạng của tôi nằm trong nửa trên của lớp. Việc thông minh duy nhất tôi làm trong 3 năm học luật là hoàn thành sớm các môn bắt buộc và khó, nên học kỳ cuối cùng này tôi mới có thể thảnh thơi như vậy.

Chính môn Luật Người cao tuổi mà tôi chọn đã đưa tôi đến ngôi nhà kim loại nóng ẩm, chật kín những người già kỳ quái (họ thích người ta gọi mình như vậy) này, hiện đang ngồi trên chiếc ghế lung lay, đối diện với một chiếc bàn gấp ọp ẹp. Phía trên cánh cửa duy nhất có thể nhìn thấy, có vài chữ viết tay lớn, gắn cho nơi này cái tên hoa mỹ là "Tòa nhà công dân cao tuổi Vườn Bách Tùng", nhưng ngoài cái tên đó ra, ở đây không hề có lấy một cánh hoa hay một chút sắc xanh nào. Tôi nguệch ngoạc trên cuốn sổ tay dành cho luật sư, không dám nhìn thẳng vào đám đông đang chậm rãi nhích về phía trước trên những chiếc ghế gấp.

Ở đây có khoảng 50 người già, da trắng da đen lẫn lộn, tuổi trung bình không dưới 75. Một số người bị mù, hơn chục người ngồi xe lăn, nhiều người đeo máy trợ thính. Chúng tôi nghe nói, trưa nào họ cũng tụ tập ở đây, ăn một bữa cơm nóng, hát vài bài ca, thỉnh thoảng còn có thể nghe những chính trị gia không hy vọng đắc cử đọc diễn văn tranh cử đến khản cổ. Sau vài giờ hoạt động xã hội, họ ai nấy lại trở về nhà, rồi đếm từng ngón tay tính xem phải đợi bao nhiêu tiếng nữa mới được quay lại đây. Theo giáo sư của chúng tôi, đây là nội dung quan trọng nhất trong cuộc sống của họ.

Chúng tôi đến đúng lúc họ đang ăn trưa, đây là một sai lầm đau đớn. Họ sắp xếp 4 đứa chúng tôi cùng giáo sư Smut dẫn đầu vào một góc, rồi cứ nhìn chằm chằm vào chúng tôi khi chúng tôi nhấm nháp món gà tỏa ra mùi hóa chất và đậu hà lan đông lạnh. Phần thạch của tôi có màu vàng, điều này bị một lão già ngốc nghếch để râu quai nón phát hiện ra, trên túi áo sơ mi bẩn thỉu của lão có cài một tấm thẻ tên viết xiêu vẹo: Bosco. Tôi thấy lão lầm bầm về món thạch vàng, nên muốn dâng cho lão, cộng thêm cả phần gà của tôi. Nhưng điều này lại bị cô Birdsong trông thấy. Cô lập tức thô bạo đuổi lão về chỗ ngồi của mình. Cô Birdsong tuy đã gần tám mươi nhưng hành động vẫn rất nhanh nhẹn, trong tổ chức này, cô đảm nhận vai trò kiêm nhiệm của một người mẹ, nhà độc tài và vệ sĩ. Cô điều khiển đám người già này như một thủ lĩnh khu vực lão luyện, lúc thì ôm người này, lúc thì vỗ vai người kia, đi đến chỗ này tán gẫu vài câu với vài bà cụ tóc bạc, đi đến chỗ kia lại cười ha hả chói tai, nhưng đôi mắt cảnh giác của cô lúc nào cũng dán chặt vào Bosco. Không nghi ngờ gì, Bosco chính là cậu bé hư trong nhóm này. Cô mắng lão một trận, trách lão không nên thèm thuồng món thạch vàng của tôi, nhưng chỉ vài giây sau, lại đặt một bát thạch vàng óng ánh trước mặt lão. Mắt lão sáng rực lên vì vui sướng, vội vàng dùng những ngón tay thô ngắn bốc ăn sạch sành sanh.

Một giờ trôi qua. Đám người già đói khát này ăn bữa trưa với vẻ mặt như thể đang thưởng thức một bữa tiệc 7 món mà không còn hy vọng được ăn bữa tiếp theo. Dao nĩa nằm trong đôi tay run rẩy của họ, di chuyển tới lui, ra vào, nặng nề như thể chứa đầy kim loại quý. Đối với họ, thời gian hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Đôi khi những cuộc trò chuyện cũng khiến họ phấn khích, họ ồn ào tranh cãi với nhau. Họ làm rơi vãi thức ăn xuống sàn. Tôi thực sự không nỡ nhìn tiếp, nhưng vẫn ăn hết phần thạch vàng của mình. Bosco vẫn dùng ánh mắt tham lam nhìn chằm chằm vào từng cử động của tôi. Cô Birdsong bay lượn trong phòng như một con bướm, lải nhải không ngừng.

Giáo sư Smut có mái tóc dày rối bời, đeo một chiếc nơ cổ vẹo vọ, cộng thêm dây đeo quần màu đỏ, đúng là một gã mọt sách chính hiệu. Ông ngồi đó, thỏa mãn vì cái bụng no căng như một người vừa được ăn một bữa ngon lành, đầy tình cảm thưởng thức khung cảnh trước mặt. Ông là một người tốt, ngoài năm mươi tuổi, nhưng tính nết lại khá giống Bosco và những người bạn của lão, và suốt 20 năm qua, ông vẫn luôn giảng những môn học cố định mà các giáo sư khác không muốn dạy và rất ít sinh viên muốn chọn. Quyền trẻ em, Luật người khuyết tật, Nghiên cứu bạo lực gia đình, Vấn đề tâm thần, và tất nhiên là cả môn Luật bà già kỳ quái (đây là cái tên mọi người đặt cho môn này sau lưng ông). Có lần ông từng muốn mở một môn "Luật thai nhi", kết quả gây ra một cuộc tranh cãi, đành phải vội vã bắt đầu kỳ nghỉ, chuồn cho nhanh.

Trong bài giảng đầu tiên, ông nói với chúng tôi mục đích của môn học này là để chúng tôi tiếp xúc với những con người thật với những vấn đề pháp lý thật. Ông cho rằng, tất cả sinh viên trường luật khi nhập học đều có một lý tưởng nhất định, đều muốn phục vụ công chúng, nhưng sau 3 năm chìm trong cuộc cạnh tranh đầy máu me, điều chúng tôi quan tâm chỉ là tìm được một công việc phù hợp tại một văn phòng luật phù hợp, rồi 7 năm sau trở thành cộng sự của văn phòng để kiếm bộn tiền. Điểm này ông nói đúng.

Môn học này không bắt buộc, ban đầu có 11 sinh viên. Nhưng Smut giảng bài khô khan tẻ nhạt, lại lải nhải không dứt, khuyên sinh viên sau này đừng mưu cầu tài lợi mà nên phục vụ người khác miễn phí, nên một tháng sau, lớp chỉ còn lại 4 người. Môn này không quan trọng, mỗi tuần chỉ có hai tiếng, lại hầu như chẳng tốn chút sức lực nào, nên tôi mới chọn nó. Tuy nhiên, nếu kéo dài thêm hơn một tháng nữa, tôi thực sự nghi ngờ liệu mình có kiên trì nổi không. Bởi ngay lúc này đây, tôi cực kỳ chán ghét trường luật, và rất lo lắng về việc hành nghề luật trong tương lai.

Đây là lần đầu tiên tôi đối mặt với thân chủ thật sự, tôi cảm thấy kinh hãi bất an. Đám người ngồi đó có thể trở thành thân chủ của tôi, tuy già nua yếu ớt, nhưng cái nhìn họ dành cho tôi như thể tôi có trí tuệ siêu phàm vậy. Dù sao thì, tôi cũng sắp trở thành một luật sư thực thụ rồi; hơn nữa lại mặc bộ vest đen, trước mặt đặt cuốn sổ tay chuyên dụng của luật sư – tôi vẽ trên đó rất nhiều hình vuông hình tròn, mặt không cảm xúc, nhíu đôi lông mày trí tuệ, nhìn từ góc độ này, chắc chắn tôi có đủ khả năng giúp đỡ họ. Ngồi cùng bàn gấp với tôi là Buck Cain, một cậu bạn da đen, người bạn thân nhất của tôi ở trường luật. Trên tấm biển tên gấp trước mặt chúng tôi viết tên chúng tôi bằng bút lông dầu: Buck Cain và Rudy Baylor. Rudy Baylor chính là kẻ hèn này. Bên cạnh Buck là một bục giảng, cô Birdsong đang đứng đó phát ra giọng nói sắc nhọn chói tai. Phía bên kia bục giảng cũng có một chiếc bàn gấp, tấm biển tên tương tự thông báo với đám đông: F. Franklin Donaldson IV giá đáo. Đây là một gã khoác lác, trong suốt 3 năm qua luôn bày trò với cái tên của mình để trông có vẻ xuất thân cao quý. Bên cạnh gã là N. Elizabeth Erickson, một ả đàn bà lẳng lơ chính hiệu. Ả là một cô gái rất khác thường, mặc bộ vest kẻ sọc, thắt cà vạt lụa, trên vai có một món đồ trang trí khổng lồ. Nhiều người trong chúng tôi đoán rằng, có lẽ ả còn mặc cả quần bảo hộ vùng kín của vận động viên nam.

Smut đứng dựa tường phía sau chúng tôi. Cô Birdsong đang đọc to các báo cáo bệnh viện và cáo phó qua micro. Hệ thống âm thanh này có 4 chiếc loa lớn treo ở 4 góc phòng, hiệu quả cực tốt, giọng nói sắc nhọn chói tai của cô rung lên trong phòng, bắn vào màng nhĩ mọi người từ khắp các phía. Một tiếng "tách tách", máy trợ thính lần lượt bị tắt đi và tháo ra. Lúc này, ai nấy đều tỉnh táo, không một ai ngủ gật. Hôm nay đọc 3 bản cáo phó, khi cô Birdsong cuối cùng cũng đọc xong, tôi thấy có người trong hàng ghế khán giả đang rơi lệ. Lạy Chúa, xin Người đừng để cái chết ập xuống đầu con. Xin hãy cho con thêm 50 năm nữa, để con làm việc và tận hưởng niềm vui cuộc sống, rồi ra đi đột ngột trong giấc ngủ là được.

Người nghệ sĩ piano ngồi bên bức tường bên trái chúng tôi lúc này đã tỉnh giấc, lật giở bản nhạc trên giá gỗ trước mặt. Cô Birdsong tự cho mình là một nhà phân tích chính trị khá cừ, lúc này đang chuẩn bị bắt đầu phê phán một quan điểm sai lầm về việc tăng thuế bán hàng, người nghệ sĩ piano đột ngột gõ phím đàn. Tôi nghĩ là bài "America the Beautiful". Cô tràn đầy cảm xúc, gõ ra những khúc dạo đầu lanh lảnh. Các cụ già vội vàng chộp lấy cuốn thánh ca của mình, chờ đợi hát ra câu ca từ đầu tiên. Cô Birdsong bây giờ lại trở thành chỉ huy hợp xướng. Cô toàn tâm toàn ý, giơ cao hai tay, vỗ tay thu hút sự chú ý của mọi người, rồi vừa đi vừa vung tay bắt nhịp theo giai điệu của khổ đầu tiên. Những cụ già còn có thể cử động tự do đều chậm rãi đứng dậy.

Hát đến khổ thứ hai, tiếng gầm thét kịch tính dần nhỏ lại. Ca từ của khổ này không quen thuộc lắm, mà mắt của những cụ già đáng thương này chỉ có thể nhìn thấy chóp mũi mình, cuốn thánh ca cầm trên tay chẳng qua cũng chỉ là đồ trang trí. Tôi thấy Bosco đột ngột mím chặt môi, ngửa mặt nhìn trần nhà, mũi phát ra tiếng hừ hừ lớn.

Tiếng piano đột ngột biến mất, hóa ra bản nhạc trượt khỏi giá gỗ, rơi vãi trên sàn nhà. Mọi người đồng loạt nhìn chằm chằm vào người nghệ sĩ piano. Chúa phù hộ cho tim của bà ấy, bà đang luống cuống tay chân, vừa sờ vừa quờ quạng nhặt bản nhạc dưới chân mình.

"Cảm ơn mọi người!" Cô Birdsong hét vào micro. Các cụ già lục tục ngồi xuống. "Cảm ơn mọi người. Âm nhạc là thứ tốt đẹp. Hãy để chúng ta cảm ơn Chúa đã ban cho chúng ta âm nhạc tuyệt vời."

"Amen!" Bosco gầm lên.

"Amen." Một cụ ông khác ở hàng sau gật đầu phụ họa.

"Cảm ơn mọi người," cô Birdsong nói. Cô quay người lại, nhìn Buck và tôi với nụ cười trên môi. Hai chúng tôi cúi người về phía trước, dựa vào bàn, nhìn đám đông một lần nữa. "Chương trình hôm nay bắt đầu bây giờ," cô nói như đang diễn kịch. "Chúng tôi vô cùng vui mừng được mời giáo sư Smut và vài cậu học trò vô cùng thông minh tuấn tú của ông quay lại đây." Cô dùng những ngón tay sưng tấy chỉ chúng tôi, để lộ hàm răng vàng xỉn, mỉm cười với Smut đang lặng lẽ đi tới bên cạnh. "Họ rất tuấn tú, phải không nào?" cô chỉ chúng tôi hỏi. "Mọi người đều biết," cô Birdsong lại nói vào micro, "Giáo sư Smut giảng dạy các khóa học luật tại Đại học Bang Memphis. Con trai út của tôi từng học ở đó, nhưng không tốt nghiệp được, điều này mọi người cũng biết rồi. Mỗi năm giáo sư Smut đều dẫn vài sinh viên đến đây thăm chúng ta, các vị có bất kỳ vấn đề pháp lý nào đều có thể tâm sự với họ, họ sẽ đưa ra lời khuyên cho các vị. Những lời khuyên này không có ngoại lệ đều rất tốt, và tôi muốn bổ sung thêm, không có ngoại lệ đều là miễn phí." Cô nghiêng người, lại một lần nữa ném một cái nhìn đầy tình cảm về phía Smut. "Giáo sư Smut, đại diện cho nhóm chúng ta, chào mừng ông quay lại Vườn Bách Tùng. Chúng tôi cảm ơn sự quan tâm của ông đối với vấn đề công dân cao tuổi. Cảm ơn ông, chúng tôi yêu ông."

Cô lùi lại vài bước, bước xuống bục giảng, vừa vỗ tay kịch liệt, vừa gật đầu ra hiệu cho đồng bọn làm theo. Nhưng không ai hưởng ứng, ngay cả Bosco cũng không nhúc nhích.

"Ông ấy thật tuyệt vời," Buck lầm bầm.

"Ít nhất thì ông ấy cũng có người yêu," tôi lầm bầm đáp lại. Các cụ già đã ngồi đây 10 phút rồi, lại vừa ăn trưa xong, tôi phát hiện vài người mắt đã bắt đầu díp lại. Đợi Smut nói xong, chắc chắn sẽ bắt đầu tiếng ngáy vang trời.

Smut bước lên bục giảng, điều chỉnh micro, hắng giọng, đợi cô Birdsong ngồi vào hàng ghế đầu. Khi ngồi xuống, cô tức giận lầm bầm với vị quý ông mặt tái nhợt ngồi cạnh: "Ông nên vỗ tay chứ!" Nhưng ông ta không nghe thấy.

"Cảm ơn cô Birdsong," Smut hét lên. "Đến Vườn Bách Tùng, tôi luôn cảm thấy vô cùng vui vẻ." Giọng ông chân thành. Trong lòng tôi không mảy may nghi ngờ: đứng giữa ngôi nhà âm u này, đối mặt với nhóm người già sầu khổ này, bên cạnh chỉ có 4 sinh viên còn lại trong lớp, giáo sư Howard L. Smut lúc này thực sự có cảm giác cao hơn người khác, tự luyến. Đây chính là mục đích sống của ông.

Ông giới thiệu chúng tôi từng người một. Tôi vội vã đứng dậy, nhếch mép, sau đó ngồi xuống, lại làm mặt lạnh, cố tình nhíu đôi lông mày đầy vẻ thâm sâu. Smut thao thao bất tuyệt về chăm sóc y tế, cắt giảm ngân sách, di chúc, miễn thuế bán hàng, các cụ già bị ngược đãi, cũng như việc chi trả phí bảo hiểm chung, v.v... Từng chủ đề một, giống như những con ruồi bay lượn, liên tiếp rơi ra từ miệng ông. Ông lải nhải không đầu không cuối như đang ở trong lớp học, kể về những lỗ hổng của hệ thống an sinh xã hội, những dự luật đang chờ xử lý, các quy định của viện điều dưỡng tư nhân, quy hoạch bất động sản, những loại thuốc thần kỳ. Ngay cả tôi nghe cũng ngáp dài, buồn ngủ. Còn Bosco thì cứ cách 10 giây lại xem đồng hồ một lần.

Bài phát biểu của Smut cuối cùng cũng gần kết thúc. Ông lại một lần nữa cảm ơn cô Birdsong và nhóm của cô, đồng thời hứa hẹn mỗi năm sau này đều sẽ ghé thăm một lần, rồi ngồi xuống bàn. Cô Birdsong vỗ tay đúng hai cái rồi dừng lại ngay. Những người khác không ai cử động, ngược lại có một nửa đang ngáy.

Cô Birdsong chỉ tay về phía chúng tôi, nói với thuộc hạ của mình: "Họ đều ở đây. Họ đều rất có năng lực, và tất cả đều miễn phí."

Đám đông chậm chạp tiến về phía chúng tôi. Đi đầu là Bosco, lão rõ ràng vẫn còn hậm hực chuyện món thạch vàng, nên mắt dù trừng trừng nhìn tôi, người lại đi sang phía bên kia bàn, ngồi trước mặt N. Elizabeth Erickson đáng kính. Cảm giác từ lâu đã mách bảo tôi rằng, lão tìm ai cũng được, nhưng tuyệt đối sẽ không tìm tôi để tư vấn pháp lý. Một người đàn ông da đen cao tuổi để mắt đến Buck, hai người họ thì thầm to nhỏ qua bàn. Tôi cố gắng không nghe cuộc trò chuyện của họ. Họ nói về chuyện một người vợ cũ của người này và một lần ly hôn nhiều năm trước, lần ly hôn đó có lẽ đã, hoặc có lẽ vẫn chưa được giải quyết chính thức. Buck ghi chép như một luật sư thực thụ, chăm chú lắng nghe, cứ như thể cậu ta thực sự biết cách xử lý vụ việc vậy.

Tuy nhiên, Buck ít nhất cũng đã có một thân chủ rồi. Còn tôi thì suốt 5 phút đồng hồ ngồi ngẩn ngơ một mình, nhìn 3 người bạn cùng lớp thì thầm nhỏ nhẹ, viết viết vẽ vẽ, đối với vấn đề đang mở ra trước mặt, lúc thì chăm chú lắng nghe đầy cảm thông, lúc thì lắc đầu.

Trạng thái cô đơn của tôi không bị bỏ qua. Cuối cùng cô Birdsong cũng thò tay vào ví, lấy ra một phong bì, hiên ngang bước đến bàn tôi. "Cậu là người tôi thực sự cần," cô khẽ nói, kéo ghế ngồi vào góc bàn. Người cô nghiêng về phía trước, người tôi nghiêng sang trái, đầu hai người cách nhau chỉ vài inch. Chính vào những khoảnh khắc như thế này, tôi bắt đầu cuộc tư vấn đầu tiên trong đời với tư cách là cố vấn pháp lý. Buck liếc nhìn tôi, trên mặt nở nụ cười tinh nghịch.

Cuộc tư vấn đầu tiên trong đời tôi. Mùa hè năm ngoái, tôi làm thư ký tại một văn phòng luật trong thành phố. Ở đó có 12 luật sư, công việc đều tính phí nghiêm ngặt theo giờ, chứ không thu thêm phí cho các tình huống phát sinh ngoài ý muốn. Tôi đã học được kỹ năng lập hóa đơn, quy tắc hàng đầu của nó là, luật sư dành phần lớn thời gian ngoài lúc ngủ để hội đàm với người khác. Hội đàm với thân chủ; hội đàm qua điện thoại; hội đàm với luật sư đối phương, thẩm phán, cộng sự, chuyên viên bồi thường bảo hiểm, thư ký hoặc trợ lý luật sư; hội đàm trong bữa trưa; hội đàm tại tòa; hội đàm họp qua điện thoại; hội đàm kết thúc vụ án; hội đàm trước xét xử; hội đàm sau xét xử. Chỉ cần bạn nêu được tên một hoạt động, luật sư có thể dệt nên một cái cớ để tổ chức một cuộc hội đàm xoay quanh nó.

Cô Birdsong dùng ánh mắt quét xung quanh một vòng. Đây là tín hiệu cho tôi, bảo tôi hạ thấp cả đầu và giọng nói xuống, dù cô muốn nói với tôi điều gì, thì đó cũng là chuyện cực kỳ quan trọng. Điều này tất nhiên cũng rất hợp ý tôi, tôi không muốn để ai nghe thấy lời khuyên tồi tệ và ngây ngô mà tôi chắc chắn sẽ đưa ra cho vấn đề sắp tới của cô.

"Cậu xem cái này đi," cô nói. Tôi nhận lấy phong bì, xé ra. Cảm ơn Chúa. Là một bản di chúc! Di chúc của Colleen Janice Barrow-Birdsong. Smut từng nói với chúng tôi rằng, hơn một nửa số thân chủ này sẽ nhờ chúng tôi trau chuốt, thậm chí sửa đổi di chúc của họ. Đối với chúng tôi, điều này khá tốt, vì năm ngoái tôi đã học môn bắt buộc "Di chúc và Di sản", muốn bới lông tìm vết trong di chúc, chúng tôi khá tự tin. Di chúc thực ra khá đơn giản, ngay cả luật sư mới vào nghề cũng có thể viết hoàn hảo.

Đây là một bản di chúc chính thức được đánh máy. Trong quá trình xem lướt qua, tôi biết được từ hai đoạn đầu rằng cô Birdsong là một góa phụ, có hai người con trai và một đàn cháu nội cháu ngoại. Đoạn thứ ba giống như giáng cho tôi một cú đòn. Tôi vừa xem vừa liếc nhìn cô, sau đó lại xem lại lần nữa. Cô mỉm cười đắc ý. Đoạn văn này chỉ thị người thực thi di chúc cho hai người con trai của cô mỗi người 2 triệu đô la, các cháu mỗi người 1 triệu đô la, do người thực thi di chúc quản lý thay. Tôi chậm rãi tính toán một chút, cô có 8 đứa cháu, nghĩa là cô có ít nhất 12 triệu đô la.

"Tiếp tục đọc đi," bà thì thầm, cứ như thể bà thực sự nghe thấy tiếng máy tính đang lạch cạch chạy trong đầu tôi vậy. Thân chủ của Bốc, lão già da đen kia, lúc này đang vừa khóc vừa kể lể về mối tình bất hạnh từ nhiều năm trước, về việc lũ con cái đã ruồng bỏ ông ta như thế nào. Dù tôi cố gắng hết sức để không nghe, nhưng những lời đó vẫn cứ lọt vào tai. Bốc giận dữ ghi chép, cố gắng không để ý đến những giọt nước mắt của lão. Ở phía bên kia bàn, Bốt-xki đang cười ha hả.

Điều khoản thứ ba trong di chúc dành 3 triệu đô-la cho một nhà thờ và 2 triệu đô-la cho một học viện. Tiếp đó là một danh sách dài các khoản quyên góp từ thiện, đối tượng đầu tiên là Hiệp hội Tiểu đường, đối tượng cuối cùng là Vườn thú Memphis. Bên cạnh mỗi cái tên đều ghi rõ số tiền quyên góp, thấp nhất là 50 ngàn đô-la. Tôi nhíu mày, nhẩm tính trong đầu và đưa ra kết quả: Tổng giá trị tài sản ròng của cô Ba-đì ít nhất là 20 triệu đô-la.

Đột nhiên, bản di chúc này lộ ra nhiều vấn đề. Đầu tiên, và cũng là quan trọng nhất, nó không hề dày như lẽ ra phải thế. Cô Ba-đì rất giàu, mà người giàu thì không bao giờ để lại một bản di chúc mỏng manh, đơn giản. Họ thích dùng những bản di chúc dày cộp, viết chi chít, ghi rõ ràng các mục như ủy thác, người giám hộ, chuyển nhượng thế hệ, cùng nhiều điều khoản tinh vi được thiết kế và thực hiện riêng bởi các luật sư thuế vụ đắt đỏ tại những văn phòng luật lớn.

"Ai là người soạn bản di chúc này?" tôi hỏi. Phong bì để trống, không có dấu hiệu cho thấy ai là người thảo ra nó.

"Luật sư cũ của tôi, ông ấy qua đời rồi."

Ông ta đã phạm tội lơ là chức trách khi thảo ra bản di chúc này. Chết đi cũng là một sự giải thoát.

Xem ra, bà lão xinh đẹp với hàm răng xám xịt và giọng nói du dương như tiếng hát này thực sự sở hữu 20 triệu đô-la. Hơn nữa, hiện tại bà rõ ràng không có luật sư riêng. Tôi liếc nhìn bà, rồi lại đưa mắt trở về bản di chúc. Bà ăn mặc không giống một phú bà, không đeo kim cương hay trang sức vàng, cũng chẳng buồn tốn thời gian hay tiền bạc cho mái tóc. Bộ đồ bà mặc là vải cotton giặt khô thông thường, chiếc áo khoác màu đỏ tím đã sờn cũ, có lẽ mua từ cửa hàng bách hóa Sears. Tôi đã từng gặp vài bà lão gia sản bạc tỷ, họ thường rất dễ nhận diện.

Bản di chúc này được soạn khoảng hai năm trước. "Luật sư của bà mất khi nào?" tôi hỏi, giọng ngọt ngào chưa từng có. Đầu hai chúng tôi vẫn ghé sát vào nhau, khoảng cách giữa hai cái mũi chỉ vài inch.

"Năm ngoái. Ung thư."

"Vậy hiện tại bà đã có luật sư chưa?"

"Nếu có rồi thì giờ tôi còn ngồi đây nói chuyện với cậu làm gì, Ru-đi? Di chúc chẳng có gì phức tạp, nên tôi nghĩ cậu có thể xử lý được."

Lòng tham quả là thứ buồn cười. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 7, tôi sẽ làm việc tại văn phòng luật Bốt-x-tơn và Sờ-pi-ơ. Cái văn phòng nhỏ bé chuyên bóc lột sức lao động này có bầu không khí vô cùng ngột ngạt. 15 luật sư ở đó ngoài việc đại diện cho các công ty bảo hiểm kiện tụng ra thì chẳng làm gì khác. Vốn dĩ tôi không muốn công việc đó, nhưng đúng lúc các văn phòng khác đều không có vị trí trống, họ lại ngỏ ý thuê tôi, nên tôi đành phải chấp nhận. Tôi định làm ở đó vài năm, làm quen với nghề rồi mới tính chuyện cao xa hơn.

Nếu ngay ngày đầu tiên bước chân vào văn phòng đó, tôi mang về cho họ một thân chủ có giá trị ít nhất 20 triệu đô-la, những gã kia sẽ ấn tượng đến mức nào chứ! Tôi sẽ lập tức trở thành người có tiếng nói, một ngôi sao mới nổi có khả năng biến đá thành vàng. Tôi thậm chí còn có thể đòi một văn phòng lớn ấy chứ.

"Tất nhiên là tôi xử lý được," tôi thản nhiên nói. "Chỉ là, bà biết đấy, việc này liên quan đến một khoản tiền lớn, mà tôi..."

"Suỵt!" Bà ghé sát người vào tôi hơn, ra hiệu im lặng. "Đừng nhắc đến chuyện tiền bạc." Bà quét mắt nhìn quanh nhanh chóng, như thể có những tên trộm đang ẩn nấp sau lưng bà để nghe lén. "Tôi tuyệt đối từ chối bàn về nó," bà nói một cách dứt khoát.

"Được thôi. Tôi không sao. Nhưng tôi nghĩ có lẽ bà nên cân nhắc việc nói chuyện với một luật sư thuế vụ."

"Luật sư cũ của tôi cũng nói vậy, nhưng tôi không muốn. Với tôi, luật sư là luật sư, còn di chúc là di chúc."

"Đúng. Nhưng nếu bà lập kế hoạch tổng thể cho di sản, bà có thể tiết kiệm được một khoản thuế khổng lồ."

Bà lắc đầu, như thể tôi hoàn toàn là một kẻ ngốc. "Tôi chẳng tiết kiệm được xu nào đâu."

"Vâng, xin lỗi bà, nhưng tôi nghĩ có lẽ bà làm được."

Bà đặt bàn tay lốm đốm đồi mồi lên cổ tay tôi, thì thầm: "Ru-đi, nghe tôi giải thích này. Thuế má chẳng liên quan gì đến tôi cả. Vì cậu biết đấy, lúc đó tôi đã quy tiên rồi. Không phải sao?"

"Vâng, tôi nghĩ là vậy. Nhưng còn những người thừa kế của bà thì sao?"

"Đó là lý do tôi tìm đến cậu. Đám con cháu bất hiếu kia làm tôi giận lắm. Tôi muốn xóa tên chúng khỏi di chúc. Hai thằng con trai, mấy đứa cháu, xóa hết, xóa hết, xóa hết. Chúng không được nhận gì cả, cậu hiểu không? Không! Một xu cũng không, một món đồ nội thất cũng không. Chẳng được gì cả."

Ánh mắt bà đột nhiên trở nên lạnh lẽo, những nếp nhăn quanh miệng siết chặt lại. Bà bóp mạnh cổ tay tôi mà chính mình cũng không hay biết. Cô Ba-đì lúc này không chỉ giận dữ mà còn vô cùng đau khổ.

Ở phía bên kia bàn, Bốt-xki và N. Ê-li-da-bét Ê-rích-xơn đang tranh cãi kịch liệt. Ông ta lớn tiếng phàn nàn, chỉ trích chung chung về hệ thống trợ cấp y tế, chăm sóc sức khỏe và Đảng Cộng hòa, còn bà thì chỉ vào một tờ giấy, cố gắng giải thích cho ông ta lý do tại sao một số hóa đơn y tế không được hoàn trả. Smút từ từ đứng dậy khỏi ghế, đi đến chỗ họ xem có giúp được gì không. Thân chủ của Bốc đang cố hết sức kiềm chế cảm xúc, nhưng từng hàng nước mắt vẫn lăn dài trên má, trong khi Bốc lại ngày càng trở nên vô cảm. Anh ta cam đoan với vị quý ông lớn tuổi rằng mình, Bốc Cây-nơ, nhất định sẽ can thiệp vào vụ việc đó và giải quyết ổn thỏa. Có người bật điều hòa, tiếng máy kêu o o phần nào át đi những cuộc trò chuyện lầm rầm. Bát đĩa trên bàn đã được thu dọn, các trò chơi khác nhau đang diễn ra. Có người chơi cờ nhảy Trung Quốc, có người chơi cờ vua, còn người khác thì đang tung xúc xắc trên bàn cờ Milton Bradley. Hầu hết họ đến đây vì một bữa trưa và để giao lưu chứ không phải để tìm kiếm tư vấn pháp lý, điều này thật đáng mừng cho chúng tôi.

"Tại sao bà muốn xóa tên họ khỏi di chúc?" tôi hỏi.

Bà buông cổ tay tôi ra, lau mắt. "Ừm, đây là chuyện riêng tư, tôi thực sự không muốn bàn tới."

"Hiểu rồi. Vậy, ai sẽ thừa kế số tiền này?" tôi hỏi. Nhận ra mình sắp được ủy quyền soạn thảo bản di chúc này, có khả năng như làm phép thuật biến những người phàm trần bình thường thành triệu phú trong chớp mắt, tôi đột nhiên cảm thấy lâng lâng. Tôi mỉm cười nhìn bà. Nụ cười của tôi nồng nhiệt mà giả tạo, hy vọng bà sẽ không vì thế mà tức giận.

"Tôi không chắc," bà buồn bã nói. Ánh mắt bà tìm kiếm xung quanh như thể đang tìm một mục tiêu. "Tôi thực sự không chắc nên cho ai số tiền này."

Vậy thì hay quá, cho tôi 1 triệu đô-la được không? Sở thuế vụ có thể kiện tôi ra tòa bất cứ lúc nào vì khoản nợ 400 đô-la. Các cuộc đàm phán của chúng tôi đã đổ vỡ, luật sư của họ đã tìm đến tôi. Tôi đã hai tháng không đóng tiền thuê nhà, chủ nhà đang đe dọa đuổi cổ tôi. Vậy mà lúc này tôi lại đang ngồi đây tán gẫu với người giàu nhất mà tôi từng gặp! Hơn nữa, người này có thể chẳng sống được bao lâu nữa, đang vui vẻ tính toán trong đầu xem ai được hưởng bao nhiêu di sản.

Bà đưa cho tôi một tờ giấy, trên đó có 4 cái tên được in ngay ngắn thành một cột hẹp. "Chúng là những đứa cháu mà tôi muốn bảo vệ, là những đứa vẫn còn yêu thương tôi," bà chụm hai tay lại gần miệng, thì thầm vào tai tôi. "Mỗi đứa 1 triệu."

Tôi dùng bàn tay run rẩy nguệch ngoạc ghi vào sổ. Chà! Chỉ với một cái vung bút như vậy, tôi đã tạo ra 4 triệu phú rồi. "Còn những người khác thì sao?" tôi hỏi nhỏ.

Bà ngả người ra sau, ngồi thẳng lưng, nói: "Không cho một xu nào hết. Chúng không gọi điện, chưa bao giờ gửi quà hay thiệp mừng cho tôi. Xóa sạch chúng đi."

Nếu tôi có một người bà sở hữu 20 triệu đô-la, tôi sẽ gửi hoa cho bà mỗi tuần một lần, gửi thiệp cách ngày, gửi sô-cô-la vào ngày mưa và sâm-panh vào ngày nắng. Tôi sẽ gọi điện cho bà mỗi sáng và thêm hai lần nữa trước khi bà đi ngủ. Mỗi Chủ nhật, tôi sẽ cùng bà đi nhà thờ, nắm tay bà ngồi suốt buổi lễ, sau đó đưa bà đi ăn trưa, rồi cùng bà đi xem đấu giá, xem kịch hay biểu diễn. Dù bà muốn xuống địa ngục, tôi cũng sẽ theo hầu. Tôi nhất định sẽ chăm sóc bà nội của mình thật tốt.

Và tôi nghĩ, với cô Ba-đì, tôi cũng sẵn lòng làm như vậy.

"Được," tôi nghiêm nghị nói, cứ như thể tôi đã làm việc này hàng trăm lần. "Vậy, hai người con trai bà cũng không cho một xu nào sao?"

"Tôi đã nói rồi mà. Tuyệt đối không."

"Xin lỗi vì đã mạo muội, rốt cuộc họ đã làm gì có lỗi với bà?"

Bà thở dài nặng nề, như thể câu hỏi này làm bà vô cùng đau lòng, đôi mắt đảo quanh, dường như không muốn trả lời. Nhưng một lát sau, bà đột nhiên chống hai khuỷu tay lên bàn, nhoài người về phía trước, hạ giọng kể với tôi. "Hừ," bà nói, "thằng cả tên Lan-đôn-phơ, gần 60 tuổi rồi mà vừa mới cưới vợ lần thứ ba. Con nhỏ đĩ thõa đó cứ suốt ngày đòi tiền. Dù tôi có để lại cho nó bao nhiêu, nó cũng tiêu sạch. Tôi thà để lại tiền cho cậu, Ru-đi, còn hơn cho con trai ruột của mình. Hoặc cho giáo sư Smút, hay bất cứ ai khác, nhưng tuyệt đối không cho thằng Lan-đôn-phơ đó. Hiểu ý tôi chứ?"

Tim tôi ngừng đập. Nguồn tài chính dồi dào mà thân chủ đầu tiên mang lại cho tôi đã ở ngay trước mắt, dễ như trở bàn tay. Mặc kệ văn phòng Bốt-x-tơn và Sờ-pi-ơ, mặc kệ những cuộc đàm phán đang chờ đợi tôi!

"Cô Ba-đì này, bà không thể để lại tiền cho tôi đâu," tôi nói, nở nụ cười ngọt ngào nhất dành cho bà. Đôi mắt tôi, và có lẽ cả môi, miệng, thậm chí cả mũi tôi nữa, đều đang lặng lẽ cầu xin bà nói một câu "có thể"! Mẹ kiếp! Tiền là của bà, bà muốn cho ai thì cho. Nếu bà muốn cho tôi, Ru-đi, thì số tiền này mẹ kiếp sẽ là của tôi!

Nhưng bà không nói thế. "Số tiền còn lại sẽ cho mục sư Ken-nít Chăn-đờ-lơ. Cậu có biết ông ấy không? Ông ấy là người Đa-lát, giờ suốt ngày lên truyền hình. Ông ấy dùng tiền quyên góp của chúng ta để làm việc thiện khắp thế giới. Xây nhà, nuôi trẻ, truyền giáo. Tôi muốn ông ấy có số tiền này."

"Một mục sư giảng đạo trên truyền hình sao?"

"Ồ, ông ấy không chỉ giảng đạo trên truyền hình đâu. Ông ấy còn là một nhà cố vấn, chính trị gia, thường xuyên ăn tối cùng những nhân vật chóp bu trong bang. Hơn nữa, có lẽ cậu không biết, ông ấy còn nhanh nhẹn như một thanh niên vậy. Mái tóc xoăn dày điểm bạc, đó là bạc từ lúc trẻ, ông ấy không muốn nhuộm đen nó đâu. Cậu biết đấy."

"Tất nhiên rồi. Nhưng mà..."

"Tối hôm trước ông ấy còn gọi điện cho tôi đấy, cậu tin không? Giọng ông ấy trên tivi mượt như lụa, nhưng qua điện thoại thì đúng là có thể hút hồn người khác. Hiểu ý tôi không?"

"Vâng, tôi nghĩ mình hiểu. Tại sao ông ấy lại gọi cho bà?"

"À, chuyện là thế này. Tháng trước tôi gửi khoản quyên góp tháng 3, lúc đó có viết vài dòng bảo rằng vì lũ con ruồng bỏ tôi, tôi muốn lập lại di chúc, để lại một ít tiền cho hội mục sư của ông ấy. Chưa đầy 3 ngày sau, ông ấy đã đích thân gọi điện, giọng nói tràn đầy năng lượng và tự tin. Ông ấy hỏi tôi muốn để lại bao nhiêu cho ông ấy và các mục sư. Tôi đưa cho ông ấy một con số áng chừng, từ đó trở đi ông ấy cứ gọi điện suốt, bảo rằng nếu tôi muốn, ông ấy thậm chí có thể lái máy bay phản lực Learjet của riêng mình đến thăm tôi."

Tôi cố gắng tìm những từ ngữ thích hợp trong đầu. Smút lúc này đang nắm lấy cánh tay Bốt-xki, cố gắng làm ông ta bình tĩnh lại để quay về chỗ ngồi trước mặt N. Ê-li-da-bét Ê-rích-xơn. Đồ trang trí trên vai Ê-li-da-bét giờ đã biến mất, thân chủ đầu tiên rõ ràng đã khiến cô vô cùng lúng túng, chỉ muốn chui xuống gầm bàn. Cô nhìn quanh, tôi vội vàng nở nụ cười chớp nhoáng để cô biết tôi đang chú ý đến cô. Bên cạnh cô, F. Phran-klin-tơn Đôn-nơ-xơn Đệ tứ đang cúi đầu tư vấn cho một cặp vợ chồng già. Họ đang thảo luận về một tài liệu, trông cũng giống một bản di chúc. Giá trị bản di chúc trong tay tôi cao hơn gấp nhiều lần so với thứ mà anh ta đang vò đầu bứt tai. Tôi không khỏi tự mãn về điều đó.

Tôi quyết định đổi chủ đề. "Vâng, cô Ba-đì, bà nói bà có hai người con trai. Lan-đôn-phơ và..."

"Đê-bớt. Đừng nhắc đến nó. Tôi đã 3 năm không nghe tin tức gì về nó rồi. Sống ở Florida. Xóa, xóa, xóa."

Tôi vung bút vài cái, thế là Đê-bớt cũng mất luôn 2 triệu đô-la đó.

"Tôi phải đi xem Bốt-xki thế nào đây," bà đột ngột đứng dậy. "Ông ấy là một ông lão vô cùng đáng thương. Không nhà cửa. Ngoài chúng tôi ra cũng chẳng có bạn bè."

"Chúng ta vẫn chưa nói chuyện xong mà," tôi nói.

Bà cúi người xuống, khuôn mặt chúng tôi lại gần nhau một lần nữa. "Không, chúng ta xong rồi, Ru-đi. Cứ làm theo lời tôi nói. 4 đứa cháu đó, mỗi đứa 1 triệu. Số còn lại cho hết Ken-nít Chăn-đờ-lơ. Các phần còn lại của di chúc vẫn giữ nguyên. Người thi hành di chúc, người bảo lãnh, người ủy thác, tất cả giữ nguyên. Đơn giản lắm, phải không Ru-đi? Tôi đã tính toán cả rồi. Giáo sư Smút nói, hai tuần nữa khi các cậu quay lại thì di chúc sẽ được đánh máy sạch sẽ, gọn gàng. Có đúng vậy không?"

"Tôi nghĩ là vậy."

"Tốt. Vậy tạm biệt nhé, Ru-đi." Bà vội vã chạy sang phía bên kia bàn, vòng tay ôm lấy Bốt-xki, ông ta lập tức yên lặng, lại trở về vẻ ngây thơ vô tội.

Tôi cẩn thận đọc bản di chúc, ghi chú lại vài điểm. Smút và các giáo sư khác sẽ hướng dẫn và giúp đỡ tôi, hơn nữa tôi còn hai tuần để tập trung suy nghĩ, làm rõ những việc nên và không nên làm. Nhận ra điều này, tôi cảm thấy khá thoải mái, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ, mình không nhất thiết phải tự tay soạn bản di chúc này. Bà lão dễ mến này sở hữu khối tài sản lên tới 20 triệu đô-la, lời khuyên bà cần còn nhiều hơn những gì tôi có thể cung cấp. Bản di chúc bà cần phải là loại mà chính bà có thể không đọc hiểu nổi, nhưng Sở Thuế vụ chắc chắn sẽ phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Tôi không cho rằng mình ngu dốt, nhưng quả thực thiếu kiến thức và kinh nghiệm. Sau 3 năm học luật, tôi hiểu rất rõ kiến thức của mình nghèo nàn đến mức nào.

Thân chủ của Bốc đang thể hiện phong thái lịch thiệp, cố gắng kiểm soát cảm xúc, còn bản thân Bốc dường như đã nói hết lời, chỉ liên tục ghi chép, cứ vài giây lại thốt ra một tiếng "vâng" hoặc "không". Tôi nóng lòng muốn kể cho anh ta nghe về cô Ba-đì và tài sản của bà.

Tôi quét mắt nhìn đám đông đang dần thưa thớt. Tôi phát hiện một cặp vợ chồng ở hàng thứ hai dường như đang nhìn chằm chằm vào tôi. Lúc này, tôi là luật sư duy nhất đang rảnh rỗi, họ có vẻ chưa quyết định được có nên đến chỗ tôi thử vận may hay không. Người phụ nữ cầm một cuộn tài liệu dày, bên ngoài buộc dây chun. Bà ta lầm bầm một lúc, chồng bà lắc đầu, như thể ông ta thà chờ đợi một trong những "đại bàng pháp lý" trẻ tuổi khác rảnh tay để tư vấn cho mình.

Chậm rãi, họ đứng dậy đi về phía bàn tôi. Ánh mắt hai người không rời khỏi tôi. Tôi mỉm cười chào đón. Chào mừng đến văn phòng của tôi.

Bà ta ngồi xuống chiếc ghế cô Ba-đì vừa ngồi. Ông ta ngồi phía đối diện bàn, vẻ mặt vẫn lạnh lùng.

"Chào ông bà," tôi mỉm cười, đưa tay ra. Ông ta bắt tay hời hợt, tôi lại đưa tay về phía bà ta. "Tôi là Ru-đi Bê-lơ."

"Tôi tên Đót, còn ông ấy là Ba-đi," bà nói rồi gật đầu với Ba-đi, nhưng không bắt tay tôi.

"Đót và Ba-đi," tôi lặp lại tên họ, bắt đầu ghi chép. "Xin hỏi ông bà họ gì ạ?" tôi hỏi họ với tất cả sự nhiệt tình của một luật sư lão luyện.

"Blắc. Đót Blắc và Ba-đi Blắc. Thực ra, chúng tôi tên là Ma-oa-lin Blắc và Uy-lít Blắc, nhưng mọi người đều gọi là Đót và Ba-đi." Mái tóc uốn của bà đã bạc trắng, nhưng trông vẫn sạch sẽ. Bà đi một đôi giày thể thao màu trắng rẻ tiền, tất ngắn màu nâu và mặc chiếc quần jean quá rộng. Dáng người gầy gò, rắn rỏi, góc cạnh.

"Địa chỉ ạ?" tôi hỏi.

"Số 8, quảng trường Grăng-giơ 63."

"Ông bà làm nghề gì?"

Đến tận lúc này, Ba-đi vẫn chưa mở miệng. Tôi có ấn tượng rằng từ nhiều năm nay, Đót luôn là người phát ngôn cho ông ta. "Chúng tôi nhận tiền trợ cấp khuyết tật," bà nói. "Tôi mới 58 tuổi mà đã bị bệnh tim từ lâu rồi. Ba-đi nhận một khoản lương hưu, số tiền nhỏ lắm."

Ba-đi chỉ nhìn chằm chằm vào tôi. Ông ta đeo kính, mắt kính rất dày, gọng nhựa cố bám lấy đôi tai. Hai má đỏ bừng, mái tóc rối bù đã bạc trắng, hơi ngả sang màu đỏ gỉ sắt. Tôi nghi ngờ không biết trong tuần này ông ta có gội đầu không. Chiếc áo sơ mi kẻ ca-rô đen đỏ ông ta mặc còn bẩn hơn cả mái tóc.

"Ông Blắc bao nhiêu tuổi ạ?" Tôi không biết nếu hỏi trực tiếp ông Blắc thì ông có trả lời không, nên đành hỏi bà ta.

"Gọi ông ấy là Ba-đi được không? Đót và Ba-đi. Đừng gọi ông gì cả, được không? Ông ấy 62 tuổi rồi. Tôi có thể nói với cậu một chuyện được không?"

Tôi nhanh chóng gật đầu. Ba-đi ngồi đối diện lườm Đót.

"Ông ấy không bình thường," bà hơi gật đầu về phía Ba-đi, hạ thấp giọng nói. Tôi nhìn ông ta, ông ta nhìn tôi và Đót.

"Bị thương khi đi lính," bà nói. "Ở Triều Tiên."

"Trong đầu ông ấy có mảnh đạn," bà nói thêm.

"Thật... thật tồi tệ," tôi thì thầm với bà, rồi ghi vào sổ: Ông Blắc có mảnh đạn trong đầu. Ông Blắc nghiêng người sang trái, lườm thân chủ của Bốc cách đó 3 feet.

Bà đột nhiên nhoài người về phía trước. "Còn chuyện này nữa," bà nói.

Tôi hơi nghiêng đầu về phía bà, dỏng tai lên. "Vâng?"

"Ông ấy nghiện rượu."

"Không thể nào."

"Nhưng gốc rễ việc ông ấy nghiện rượu cũng là do bị thương khi đi lính," bà lại bổ sung, giúp ông ta một câu. Người phụ nữ mà tôi chỉ mới quen 3 phút trước, cứ thế hạ thấp chồng mình thành một kẻ nghiện rượu lười biếng.

"Tôi hút thuốc cậu không phiền chứ?" bà hỏi, tay đã vươn về phía túi xách nhỏ.

"Ở đây có được phép hút thuốc không ạ?" tôi vừa hỏi vừa nhìn quanh, hy vọng thấy biển báo "Cấm hút thuốc" nhưng chẳng thấy đâu.

"Ồ, tất nhiên là được." Bà nhét một điếu thuốc vào đôi môi khô nẻ, châm lửa, rít một hơi mạnh, phả thẳng làn khói vào mặt Ba-đi, còn Ba-đi thì chẳng hề lay động.

"Tôi có thể giúp gì cho ông bà đây?" tôi hỏi, mắt nhìn vào cuộn tài liệu buộc chặt bằng dải chun to. Tôi nhét bản di chúc của cô Ba-đì xuống dưới cuốn sổ. Thân chủ đầu tiên của tôi là một phú bà triệu đô, còn người thứ hai lại sống bằng lương hưu. Sự nghiệp luật sư vừa mới bắt đầu của tôi lại rơi tõm xuống mặt đất.

"Chúng tôi không có nhiều tiền," bà nói khẽ, như thể đây là một bí mật lớn, việc tiết lộ khiến bà vô cùng bất an. Tôi mỉm cười thông cảm. Dù họ có bao nhiêu tiền đi chăng nữa, họ vẫn giàu hơn tôi, và tôi không tin họ sẽ bị người ta kiện ra tòa như tôi.

"Nhưng chúng tôi cần một luật sư." Bà cầm cuộn tài liệu lên, tháo dải chun ra.

"Ông bà gặp vấn đề gì ạ?"

"Hừ, chúng tôi bị công ty bảo hiểm lừa một vố đau rồi."

"Đó là loại bảo hiểm gì?" tôi hỏi. Bà ấy đẩy xấp tài liệu về phía tôi, chà xát đôi bàn tay thật mạnh như thể đã trút bỏ được gánh nặng nghìn cân, chuyển giao nó cho một người có khả năng tạo ra phép màu. Trên cùng xấp tài liệu là một tờ hợp đồng bảo hiểm nhàu nát, lấm tấm vết bẩn và rách nát. Đa-tơ lại phả ra một làn khói, khiến một lúc lâu sau tôi mới nhìn rõ được Ba-địch.

"Đây là bảo hiểm y tế," bà nói. "Chúng tôi mua từ 5 năm trước, của Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Đại Lợi. Hồi đó hai đứa con trai của chúng tôi mới 17 tuổi. Giờ thì Đường Ni-Lôi mắc bệnh bạch cầu, sắp chết đến nơi rồi, vậy mà lũ lừa đảo đó không chịu bỏ ra một xu để chữa trị cho thằng bé."

"Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Đại Lợi sao?"

"Đúng vậy."

"Tôi chưa từng nghe đến cái tên này," tôi lướt nhìn những điều khoản trên hợp đồng, đáp lại với vẻ chắc nịch, cứ như thể tôi đã xử lý hàng tá vụ án tương tự và am tường tường tận mọi ngóc ngách của từng công ty bảo hiểm vậy. Trên hợp đồng liệt kê tên hai người phụ thuộc: Đường Ni-Lôi và Long Ni-Lôi Bờ-lếch, cả hai đều có cùng ngày sinh.

"Này, đừng trách tôi ăn nói bỗ bã, nhưng bọn chúng đúng là lũ khốn nạn."

"Đa số các công ty bảo hiểm đều như thế cả," tôi đồng cảm. Đa-tơ mỉm cười nhẹ, tôi đã giành được sự tin tưởng của bà. "Vậy là bà mua bảo hiểm này 5 năm trước...?"

"Xấp xỉ vậy. Chưa bao giờ chậm đóng phí bảo hiểm lấy một lần. Trước khi Đường Ni-Lôi đổ bệnh, chúng tôi chưa từng dùng đến cái thứ chết tiệt này."

Tôi là sinh viên, một kẻ chưa từng mua bảo hiểm. Chẳng có hợp đồng nào bảo vệ tôi, mạng sống của tôi, sức khỏe của tôi hay chiếc xe của tôi cả. Thậm chí tôi còn chẳng đủ tiền thay một chiếc lốp sau bên trái cho chiếc xe Toyota cũ nát của mình.

"Vậy... ừm, bà nói nó sắp chết rồi sao?"

Bà ngậm điếu thuốc, gật đầu. "Bạch cầu cấp tính. Mắc bệnh được 8 tháng rồi. Bác sĩ bảo nó có thể sống được một năm, nhưng nó không thể thực hiện phẫu thuật ghép tủy, nên chắc không sống nổi đến một năm đâu. Giờ có lẽ đã quá muộn rồi."

Bà phát âm từ "tủy" nghe như "thủy".

"Ghép tủy ư?" tôi ngơ ngác hỏi.

"Cậu không hiểu về bệnh bạch cầu à?"

"Ừm, không hiểu rõ lắm."

Bà chép miệng, đảo mắt nhìn quanh như thể tôi là một kẻ ngốc chính hiệu. Bà ngậm điếu thuốc vào miệng, nhíu mày rít một hơi thật mạnh. Sau khi nhả hết khói, bà nói: "Hai đứa con tôi là sinh đôi, cậu biết đấy. Thằng Long, nó không thích cái tên Long Ni-Lôi nên chúng tôi gọi nó là Long, nó là người có tủy phù hợp nhất để ghép cho Đường Ni-Lôi. Bác sĩ bảo thế. Vấn đề là phẫu thuật rất đắt, khoảng 150 nghìn đô-la. Chúng tôi không có số tiền đó, cậu biết mà. Công ty bảo hiểm phải chi trả khoản này, tờ hợp đồng nằm đây đã ghi rõ rồi. Lũ khốn đó lại bảo không. Chính vì bọn chúng mà Đường Ni-Lôi mới rơi vào cảnh sắp chết như thế này."

Cách bà nắm bắt trọng tâm vấn đề khiến tôi kinh ngạc.

Chúng tôi để mặc Ba-địch ngồi một bên, nhưng ông ta vẫn luôn lắng nghe cuộc trò chuyện. Ông chậm rãi tháo kính, dùng mu bàn tay đầy lông chùi mắt. Thật kỳ lạ, Ba-địch đang khóc! Ở phía bên kia bàn, Bốt-cô cũng đang sụt sùi. Vị khách của Búc lấy tay che mặt, không ngừng nức nở. Phải chăng tội lỗi trong quá khứ, sự hối hận hay một nỗi đau nào đó đã chạm đến tâm hồn ông ta? S-mút đứng cạnh cửa sổ nhìn chúng tôi, rõ ràng rất tò mò không biết chúng tôi đã đưa ra lời khuyên gì mà khiến họ đau lòng đến thế.

"Nó sống ở đâu?" tôi hỏi, mục đích chỉ là để có vài giây tranh thủ nguệch ngoạc vài dòng vào sổ tay trong lúc bà trả lời, nhằm quên đi những giọt nước mắt kia.

"Nó chưa bao giờ rời nhà. Sống cùng chúng tôi. Đây lại là một lý do khác mà công ty bảo hiểm từ chối yêu cầu của chúng tôi, họ nói nó đã trưởng thành, không còn thuộc phạm vi bảo hiểm nữa."

Tôi rút những bức thư trao đổi với công ty Đại Lợi ra khỏi xấp tài liệu, vừa đọc vừa hỏi: "Trong hợp đồng có ghi rõ khi nó trưởng thành thì không còn được bảo hiểm nữa không?"

Bà lắc đầu, cười gượng gạo: "Không. Trong hợp đồng không ghi, Ru-đi. Chúng tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần rồi, không hề có dòng nào như vậy cả. Ngay cả những dòng chữ nhỏ li ti cũng đã đọc hết rồi."

"Bà chắc chứ?" tôi hỏi, nhìn lại hợp đồng.

"Chắc chắn. Suốt một năm nay, tôi gần như đọc cái hợp đồng chết tiệt này mỗi ngày."

"Ai là người bán bảo hiểm cho bà? Đại lý bảo hiểm là ai?"

"Một gã lùn ngớ ngẩn. Hắn gõ cửa nhà chúng tôi, lừa chúng tôi mua. Tên là gì ấy nhỉ, Ô-tô, một gã lừa đảo miệng lưỡi trơn tru, nói chuyện nhanh như chớp. Tôi đã tìm hắn nhưng chắc hắn đã chuồn khỏi thành phố rồi."

Tôi xem một bức thư rút ra từ xấp tài liệu. Người gửi là một chuyên viên thẩm định yêu cầu bồi thường cấp cao ở Cleveland, viết sau bức thư đầu tiên tôi đọc vài tháng. Bức thư từ chối chi trả phí y tế cho Đường Ni một cách rất lạnh lùng, với lý do bệnh bạch cầu của nó là bệnh có sẵn nên không nằm trong phạm vi bảo hiểm. Nếu Đường Ni mắc bệnh chưa đầy một năm, thì thời điểm chẩn đoán là sau khi công ty Đại Lợi bán hợp đồng được 4 năm. "Ở đây nói rằng vì là bệnh có sẵn nên bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hiểm."

"Bọn chúng đã dùng hết mọi lý do có thể tìm được rồi, Ru-đi. Cậu cứ đọc kỹ đống tài liệu đó là hiểu ngay. Nào là nguyên tắc loại trừ, nguyên tắc miễn trừ, bệnh có sẵn, điều khoản phụ, bọn chúng đều đã dùng hết cả."

"Có điều khoản nào loại trừ việc ghép tủy khỏi phạm vi bảo hiểm không?"

"Tuyệt đối không. Bác sĩ đã xem hợp đồng. Ông ấy nói Đại Lợi phải trả tiền vì ghép tủy hiện nay đã là phương pháp điều trị thông thường rồi."

Vị khách của Búc lấy hai tay lau mặt, đứng dậy xin phép. Ông ta cảm ơn Búc, Búc cũng cảm ơn lại. Người đàn ông già ngồi xuống cạnh những người bạn đang chơi cờ nhảy Trung Quốc, quan sát họ giao tranh quyết liệt. Cô Ba-địch cuối cùng cũng giải thoát cho N. E-li-da-bét Ê-rích-xơn khỏi những câu hỏi của Bốt-cô. S-mút đi lại phía sau chúng tôi.

Tôi tiếp tục đọc một bức thư khác cũng từ công ty Đại Lợi. Thoạt nhìn, nó chẳng khác gì mấy bức thư kia, vẫn sự thiếu kiên nhẫn ấy, vẫn sự thô bỉ ấy, vẫn sự thẳng thừng ấy. Bức thư viết: "Thưa bà Bờ-lếch, công ty chúng tôi đã 7 lần từ chối yêu cầu bồi thường của bà bằng văn bản. Nay chúng tôi từ chối thêm lần nữa, đây là lần thứ 8 và cũng là lần cuối cùng. Bà chắc chắn là kẻ ngu xuẩn tột độ, ngu xuẩn tột độ, ngu xuẩn tột độ!" Bức thư được ký bởi giám sát thẩm định cấp cao. Tôi chạm vào logo công ty in nổi phía trên bức thư, không thể tin vào mắt mình. Mùa thu năm ngoái, tôi có học một môn tên là Luật Bảo hiểm, đến giờ vẫn còn nhớ mình đã bàng hoàng thế nào trước những hành vi lừa đảo thiếu uy tín của một số công ty bảo hiểm. Thầy giáo của chúng tôi là một người cộng sản, rất ghét các công ty bảo hiểm, thực tế là ghét mọi tập đoàn. Thầy kể về những vụ việc các công ty bảo hiểm từ chối bồi thường hợp pháp một cách vô lý rất say sưa. Thầy cho rằng đất nước này có hàng vạn vụ án lừa đảo nhưng chưa bao giờ bị trừng trị thích đáng. Thầy đã viết nhiều cuốn sách về các vụ kiện lừa đảo, thậm chí còn trích dẫn số liệu thống kê để chứng minh quan điểm của mình: rất nhiều người khi bị từ chối yêu cầu bồi thường đã không tìm kiếm tư vấn kỹ lưỡng mà đành chấp nhận chịu thiệt.

Tôi vừa vuốt ve logo in ấn tinh xảo của Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Đại Lợi, vừa đọc lại bức thư một lần nữa.

"Bà không bỏ lỡ lần đóng phí bảo hiểm nào chứ?" tôi hỏi Đa-tơ.

"Không, thưa cậu, chưa từng một lần."

"Tôi cần xem hồ sơ bệnh án của Đường Ni."

"Hầu hết hồ sơ đều để ở nhà. Dạo này nó ít đi khám bác sĩ lắm. Chúng tôi không kham nổi chi phí."

"Bà có biết ngày chính xác nó được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu không?"

"Không. Nhưng tôi nhớ là vào tháng 8 năm ngoái, nó nhập viện để hóa trị. Đợt đầu tiên. Sau đó, lũ lừa đảo đó thông báo rằng họ sẽ không thanh toán bất kỳ chi phí y tế nào cho chúng tôi nữa, bệnh viện liền đóng cửa với chúng tôi. Họ nói phí phẫu thuật ghép tủy cho Đường Ni, bệnh viện không gánh nổi. Vì mẹ kiếp, nó quá đắt đỏ. Tôi không thể trách họ, thực sự là không thể."

Ba-địch đang quan sát một vị khách khác của Búc, một người phụ nữ nhỏ bé yếu ớt, bà ấy cũng mang theo một xấp tài liệu. Đa-tơ lục lọi trong bao thuốc lá nhãn hiệu Salem một lúc, lại ngậm một điếu thuốc vào miệng.

Nếu Đường Ni-Lôi thực sự mắc bệnh bạch cầu và chỉ mới được 8 tháng, thì không có cách nào coi đó là "bệnh có sẵn" để loại trừ khỏi phạm vi bảo hiểm. Nếu không thể loại trừ bệnh bạch cầu, thì Công ty Đại Lợi buộc phải bồi thường, đúng không? Tôi thấy điều này hợp tình hợp lý, rõ ràng rành mạch. Thế nhưng pháp luật hiếm khi rõ ràng và cũng hiếm khi hợp tình hợp lý, vì vậy tôi hiểu rằng, sâu trong xấp tài liệu từ chối bồi thường của Đa-tơ, chắc chắn có thứ gì đó mang tính sinh tử đang chờ đợi tôi.

"Tôi thực sự không hiểu nổi," tôi nói, mắt vẫn dán vào bức thư "ngu xuẩn tột độ" kia.

Đa-tơ lại phả một làn khói dày đặc vào chồng mình, những vòng khói cuộn tròn quanh đầu ông ta. Tôi nghĩ nước mắt của ông đã cạn, nhưng không dám chắc. Bà chép đôi môi khô khốc nói: "Rất đơn giản thôi, Ru-đi. Bọn chúng là lũ lừa đảo, tưởng chúng ta là đám rác rưởi ngu dốt không có tiền để đấu lại chúng. Tôi đã làm việc trong nhà máy quần jean suốt 30 năm, có tham gia công đoàn, cậu biết đấy, chúng tôi đấu tranh với công ty mỗi ngày. Ở đây cũng vậy. Các công ty lớn chẳng coi những người nhỏ bé như chúng ta ra gì cả."

Cha tôi ngoài việc ghét luật sư, cũng thường chửi rủa công đoàn thậm tệ. Dần dần, tôi tự nhiên trở thành một người bảo vệ nhiệt thành cho tầng lớp lao động. "Bức thư này thật không thể tin nổi," tôi nói với bà.

"Bức nào cơ?"

"Bức ông Crốc-ki-tơ viết ấy, nói bà ngu xuẩn tột độ, ngu xuẩn tột độ, ngu xuẩn tột độ ấy."

"Đồ khốn! Thử xem hắn có dám vác mặt đến đây nói thẳng vào mặt tôi là ngu xuẩn tột độ xem! Đồ lai tạp phương Bắc chết tiệt!"

Ba-địch dùng tay xua làn khói trước mặt, lầm bầm một câu. Tôi nhìn ông, hy vọng ông sẽ nói gì đó, nhưng ông chỉ làm như không nhìn thấy. Tôi đột nhiên nhận ra bên trái đầu ông phẳng hơn bên phải một chút. Hình ảnh ông ta trần truồng đi qua cửa an ninh sân bay từng xuất hiện trong trí tưởng tượng của tôi lại hiện về. Tôi gấp bức thư "ngu xuẩn tột độ" lại, đặt nó lên trên xấp tài liệu.

"Đọc hết đống tài liệu này phải mất vài tiếng đấy," tôi nói.

"Này, cậu phải nhanh lên đấy. Đường Ni-Lôi không sống được lâu đâu. Nó giờ gầy chỉ còn 110 pao, trước kia nó nặng tận 160 pao cơ. Có những ngày nó ốm đến mức không đi nổi. Tôi hy vọng cậu có thể gặp thằng bé."

Tôi không có ý định gặp Đường Ni-Lôi. "Được rồi, để lúc khác đi." Tôi cần nghiên cứu hợp đồng và thư từ, cả hồ sơ bệnh án của Đường Ni, sau đó thảo luận với S-mút, rồi viết một bức thư dài hai trang với lời lẽ phù hợp gửi cho gia đình Bờ-lếch, chỉ ra một cách khôn ngoan rằng: họ nên giao vụ này cho một luật sư thực thụ xử lý. Không phải luật sư nào cũng được, mà phải là người chuyên kiện các hành vi lừa đảo của công ty bảo hiểm. Tôi sẽ liệt kê tên tuổi của vài luật sư như thế cùng số điện thoại của họ. Sau đó tôi sẽ nói lời tạm biệt với vụ việc không mang lại lợi nhuận này, tạm biệt S-mút, tạm biệt sự nhiệt huyết của ông ta với luật cho người già.

Chỉ còn 38 ngày nữa là tôi tốt nghiệp.

"Tôi sẽ mang những thứ này đi," tôi thu dọn xấp tài liệu lộn xộn của bà, vừa nói vừa với tay lấy sợi dây thun. "Hai tuần nữa tôi sẽ quay lại, tôi sẽ gửi cho bà một bức thư ghi rõ lời khuyên của tôi."

"Sao phải đợi tận hai tuần?"

"Cái này... ừm, tôi phải nghiên cứu kỹ, bà biết đấy. Tôi còn phải thảo luận với các thầy giáo, còn phải tra cứu tài liệu nữa. Bà có thể gửi hồ sơ bệnh án của Đường Ni cho tôi không?"

"Đương nhiên là được. Nhưng cậu tốt nhất nên nhanh lên một chút."

"Tôi sẽ cố gắng hết sức, Đa-tơ."

"Cậu thấy lý lẽ của chúng tôi có đầy đủ không?"

Dù chỉ là một sinh viên luật, tôi cũng đã học được cách sử dụng thứ ngôn ngữ mơ hồ. "Giờ vẫn khó nói lắm. Nhưng xem ra hy vọng rất lớn. Chỉ là cần nghiên cứu kỹ hơn nữa thôi. Khả năng vẫn có."

"Rốt cuộc cậu muốn nói gì?"

"À, ý tôi là, tôi nghĩ bà đã có đủ lý do để đòi bồi thường. Nhưng tôi cần nghiên cứu đống tài liệu này mới có thể khẳng định chắc chắn được."

"Cậu là loại luật sư nào thế?"

"Tôi là sinh viên luật."

Câu trả lời của tôi khiến bà ngơ ngác. Bà bĩu môi, siết chặt đầu lọc thuốc lá màu trắng, đôi mắt mở to nhìn tôi. Ba-địch lại lầm bầm một tiếng. Đúng lúc đó S-mút đi đến chỗ chúng tôi, điều đó khiến tôi vô cùng biết ơn. Ông hỏi: "Các bạn tiến triển thế nào rồi?"

"Cũng ổn," tôi nói, "sắp xong rồi."

"Tốt quá," ông nói, dường như đã đến lúc, còn có những vị khách khác đang đợi chúng tôi phục vụ. Nói xong, ông chậm rãi bước đi nơi khác.

"Hai tuần nữa tôi sẽ đến thăm hai bác," tôi nói một cách nhiệt tình, cố nặn ra một nụ cười.

Đa-tơ dập tắt điếu thuốc trong gạt tàn, nghiêng người về phía trước, lần nữa áp sát vào tôi. Đôi môi bà đột nhiên run rẩy, đôi mắt tràn đầy nước mắt. Bà khẽ nắm lấy cổ tay tôi, nhìn tôi đầy tuyệt vọng. "Xin cậu hãy khẩn trương lên, Ru-đi. Chúng tôi cần sự giúp đỡ. Con trai tôi sắp chết rồi."

Chúng tôi nhìn nhau rất lâu. Cuối cùng, tôi gật đầu, lầm bầm điều gì đó không rõ ràng. Cặp vợ chồng già đáng thương này vừa mới gửi gắm mạng sống của con trai họ cho tôi, một sinh viên năm thứ ba trường luật Đại học Bang Memphis. Họ thực sự tin rằng tôi sẽ mang xấp tài liệu rách nát này về, rồi cầm điện thoại lên, thực hiện vài cuộc gọi, viết vài bức thư, gầm lên vài tiếng, đưa ra vài lời đe dọa, chớp mắt một cái, Công ty Bảo hiểm Đại Lợi sẽ lập tức quỳ gối đầu hàng, dâng tận tay Đường Ni-Lôi đống tiền lớn. Hơn nữa, họ còn mong đợi chuyện đó sẽ xảy ra nhanh chóng cơ.

Họ đứng dậy, lúng túng rời đi. Tôi gần như chắc chắn rằng, ở một phần nào đó của hợp đồng, chắc chắn có một điều khoản nhỏ hoàn hảo có thể loại trừ bệnh của Đường Ni-Lôi khỏi phạm vi bảo hiểm. Điều khoản đó khó lòng nhìn thấy, nhưng chắc chắn là do những cao thủ luật pháp dày dạn kinh nghiệm soạn thảo; hàng chục năm qua, họ vẫn nhận lương cao ngất ngưởng, vui vẻ biên soạn các điều khoản phụ trong hợp đồng.

Đa-tơ dẫn Ba-địch lảo đảo lách qua những chiếc ghế xếp và những người chơi cờ đang chăm chú, dừng lại ở bình cà phê, rót một cốc cà phê không chứa cafein rồi châm thêm một điếu thuốc. Họ thu mình ở cuối phòng, nhấm nháp cà phê, nhìn tôi từ xa cách 60 bộ. Tôi lật từng trang hợp đồng, ghi chép, cố gắng không để ý đến họ. Hợp đồng dài tới 30 trang, toàn là những dòng chữ nhỏ li ti gần như không thể đọc nổi.

Mọi người đang dần rời đi, trong phòng chẳng còn lại mấy người. Vai trò luật sư này đã khiến tôi mệt mỏi. Một ngày như thế này là quá đủ với tôi rồi, tôi hy vọng không còn ai đến tìm tôi nữa. Sự thiếu hiểu biết về luật pháp của tôi khiến tôi kinh ngạc. Nghĩ đến việc chỉ vài tháng nữa thôi, tôi sẽ đứng trước các tòa án trong thành phố, đối đầu với các luật sư khác trước mặt thẩm phán và bồi thẩm đoàn, tôi lại thấy rùng mình. Tôi chưa sẵn sàng để dùng quyền khởi kiện mà chỉ trích xã hội.

Ba năm trường luật chẳng qua là ba năm lãng phí dưới áp lực vô nghĩa. Chúng tôi dành thời gian vô tận để đào bới những thông tin mà chúng tôi sẽ chẳng bao giờ cần đến. Chúng tôi nhận sự tra tấn mệt mỏi từ các giáo sư, những gì họ giảng chúng tôi chỉ nghe tai này qua tai kia. Những vụ án chúng tôi thuộc lòng, hôm sau có thể đã bị bác bỏ. Những bộ luật chúng tôi học thuộc, hôm sau có thể đã được sửa đổi. Nếu trong 3 năm qua, mỗi tuần tôi dành 50 tiếng để học dưới sự hướng dẫn của một luật sư giỏi, thì tôi cũng đã trở thành một luật sư giỏi rồi. Nhưng bây giờ, tôi chỉ là một sinh viên năm ba đầy lo âu, đến cả vấn đề pháp lý đơn giản nhất cũng cảm thấy sợ hãi, kỳ thi luật sư sắp tới càng khiến tôi hoảng sợ.

Phía trước tôi có động tĩnh. Tôi ngẩng đầu lên, hóa ra là một ông già đeo máy trợ thính to đùng, đang di chuyển cái thân hình thấp béo, lảo đảo bước về phía tôi—

Đậu Đậu Thư Khố sưu tầm và biên tập

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026