Siêu thuyết khách

Lượt đọc: 26 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Phần 08

❊ ❊ ❊

Tại một nơi sâu trong văn phòng luật của Shankle, Buck tìm thấy những tờ đơn xin phá sản. Anh ta nói rằng có một luật sư trong văn phòng quanh năm làm việc dưới tầng hầm, thỉnh thoảng mới giải quyết vài vụ phá sản, nên anh ta có thể lấy được những biểu mẫu cần thiết.

Nội dung trên biểu mẫu khá trực tiếp và rõ ràng. Một trang liệt kê tài sản, đối với tôi thì việc này quá đơn giản, chỉ cần viết một mạch là xong. Một trang khác liệt kê nợ nần. Những phần còn lại điền tình trạng việc làm, các vụ kiện chưa xét xử, vân vân và vân vân. Đây chính là nội dung của Chương 7 trong sách giáo khoa: Phá sản không nợ, tức là xóa sạch toàn bộ tài sản để trả nợ, và nợ nần cũng đồng thời được xóa bỏ.

Hiện tại tôi không còn làm thuê cho quán rượu Yogi nữa. Tôi vẫn làm việc, nhưng nhận bằng tiền mặt, không để lại bất kỳ hồ sơ nào. Không có gì để người ta có thể kê biên, cũng chẳng có nghĩa vụ nào bắt tôi phải chia sẻ tiền lương đủ sống của mình cho sở thuế. Tôi từng thảo luận với Prince về tình cảnh của mình, nói cho ông ấy biết mọi chuyện tồi tệ đến mức nào. Tôi đổ lỗi cho học phí đắt đỏ và thẻ tín dụng là thủ phạm chính. Còn ông ấy thì rất tán thưởng ý tưởng trả tiền mặt để chính phủ chịu thiệt. Ông ấy là một tín đồ kiên định của kinh tế học giao dịch tiền mặt không cần đóng thuế.

Prince đề nghị cho tôi vay một khoản để thoát khỏi khó khăn hiện tại, nhưng tôi khéo léo từ chối. Ông ấy tưởng rằng chẳng bao lâu nữa tôi sẽ trở thành một luật sư trẻ giàu có kiếm được bộn tiền, còn tôi thì không đủ can đảm để nói với ông ấy rằng, có lẽ tôi còn phải làm thuê cho ông ấy, và sẽ còn làm trong một thời gian rất dài.

Tôi cũng không nói với ông ấy rằng nếu vay tiền thì số nợ sẽ lớn đến mức nào. Sở thuế kiện tôi ra tòa, đòi tôi phải trả 612,88 đô la, bao gồm cả án phí và phí luật sư. Chủ nhà kiện tôi ra tòa, đòi trả 809 đô la, cũng bao gồm án phí và phí luật sư. Nhưng con sói thực sự đang từng bước tiến gần đến tôi. Chúng liên tục gửi cho tôi những lá thư khiến tôi phiền lòng, không ngừng đe dọa sẽ cử luật sư đến.

Tôi có một thẻ Mastercard và một thẻ Visa. Hai loại thẻ này được mua tại hai ngân hàng khác nhau ở Memphis. Trong khoảng thời gian từ Lễ Tạ ơn đến Giáng sinh năm ngoái, vì tin chắc rằng vài tháng nữa sẽ có một công việc lương cao, đồng thời lại đang chìm đắm trong tình yêu cuồng nhiệt đầy tự phụ với Sarah, kẻ quên đi nỗi lo là tôi đây đã muốn mua cho cô ấy vài món quà lễ hội đầy mê hoặc. Đã mua thì đương nhiên phải mua loại chất lượng bền lâu và giá thành đắt đỏ. Tôi dùng thẻ Mastercard, tiêu hết 1.700 đô la để mua một chiếc vòng tay vàng đính đá quý để cô ấy đeo khi chơi quần vợt; lại dùng thẻ Visa, tiêu hết 1.100 đô la mua cho người yêu dấu nhất của mình một đôi bông tai bạc cổ điển. Ngay ngày hôm trước khi cô ấy nói với tôi rằng đời này kiếp này không bao giờ muốn gặp lại tôi nữa, tôi còn đến một cửa hàng thực phẩm cao cấp mua một chai sâm panh Dom Pérignon, nửa cân gan ngỗng, trứng cá muối, phô mai thượng hạng và vài món ngon khác, định bụng sẽ cùng cô ấy uống cạn chén rượu, đón mừng lễ Giáng sinh. Những món rượu ngon thức quý này lại tiêu tốn của tôi 300 đô la. Nhưng mặc kệ nó. Đời người ngắn ngủi mà.

Từ vài tuần trước khi lễ hội bắt đầu, hai ngân hàng phát hành thẻ tín dụng với bộ mặt "miệng nam mô bụng một bồ dao găm" kia đã tự ý nâng hạn mức chi tiêu của tôi lên một cách khó hiểu. Tôi đột nhiên trở nên có thể tiêu tiền tùy thích, cộng thêm việc sắp tốt nghiệp và có việc làm, tôi tin chắc mình có thể kiếm chút tiền trả hóa đơn hàng tháng, chật vật duy trì đến mùa hè, nên mới tiêu tiền như nước, mơ mộng về cuộc sống hạnh phúc bên Sarah.

Giờ đây tôi thực sự căm ghét bản thân vì sự lãng phí đó, nhưng lúc bấy giờ tôi đã tính toán kỹ càng từng khoản, và cho rằng kết quả tính toán là hoàn toàn khả thi.

Một buổi tối, sau khi nốc một lượng lớn bia rẻ tiền, tôi tiện tay đặt miếng gan ngỗng lên nóc tủ lạnh, mặc kệ nó ở đó mà hư thối. Đúng trưa ngày Giáng sinh, tôi ở một mình trong căn hộ u ám, ăn phô mai, uống sâm panh, trứng cá muối thì ngay cả chạm vào cũng không. Tôi ngồi trên chiếc ghế sofa lồi lõm, ánh mắt đờ đẫn nhìn những món đồ trang sức vứt trên sàn nhà trước mặt. Tôi gặm nhấm từng chút phô mai Brie, nhấp từng ngụm sâm panh Dom, mắt nhìn những món quà Giáng sinh mua cho người yêu dấu, nước mắt cứ thế tuôn rơi.

Vào một thời điểm không xác định giữa Giáng sinh và Năm mới, tôi lấy lại tinh thần, sắp xếp chuẩn bị xử lý những món quà quý giá đó, để chúng quay về nơi chúng thuộc về. Tôi cũng từng lơ đãng nghĩ xem có nên giống như Bille-Joe, ném chúng xuống từ trên cầu, hay chơi một trò kịch tính tương tự. Nhưng, cân nhắc trạng thái tình cảm hiện tại, tôi biết tốt nhất là mình nên tránh xa cây cầu ra thì hơn.

Ngày thứ hai của năm mới, tôi đi dạo và chạy bộ ngoài trời rất lâu. Khi về đến căn hộ, phát hiện kẻ trộm đã ghé thăm. Chúng cạy cửa, lấy đi chiếc tivi cũ và máy nghe nhạc stereo, một hộp thịt đùi để trên tủ bát, và tất nhiên là cả những món đồ trang sức tôi mua cho Sarah.

Tôi gọi cảnh sát, viết báo cáo và cho họ xem hóa đơn cửa hàng cấp khi mua bằng thẻ tín dụng. Cảnh sát nghe xong chỉ lắc đầu, bảo tôi đi tìm công ty bảo hiểm mà tôi đã mua bảo hiểm.

Hơn 3.000 đô la tiêu bằng thẻ tín dụng, giờ đã đến lúc phải thanh toán với tôi rồi.

Quyết định về đơn xin phá sản của tôi sẽ được đưa ra vào ngày mai. Trong luật phá sản có một điều khoản tuyệt vời, cho phép tất cả các thủ tục pháp lý bất lợi cho con nợ được tự động đình chỉ. Đây là lý do tại sao một số công ty giàu nứt đố đổ vách, bao gồm cả đối tác Texaco của tôi, khi cần sự bảo hộ tạm thời đều vội vã chạy đến tòa án phá sản. Ngày mai chủ nhà sẽ không thể tiếp cận tôi, thậm chí là gọi điện thoại hay chửi bới tôi qua điện thoại cũng không được.

Tôi bước ra khỏi thang máy, hít một hơi thật sâu. Hành lang chật ních luật sư. Tòa án có 3 thẩm phán chuyên trách về phá sản, phòng xử án của họ đều ở tầng này. Lịch trình của họ mỗi ngày có hàng chục phiên điều trần, và mỗi phiên đều liên quan đến một nhóm luật sư; một người phục vụ bên nợ, vài người phục vụ bên chủ nợ. Nơi này chẳng khác nào một vườn thú. Khi tôi lê đôi chân nặng nề chậm rãi tiến về phía trước, tôi nghe thấy rất nhiều cuộc trò chuyện quan trọng, các luật sư đang tranh luận không dứt về hóa đơn y tế chưa thanh toán và giá của những chiếc xe hơi nhỏ. Tôi bước vào văn phòng thư ký, đợi ở đó 10 phút, lạnh lùng quan sát các luật sư xếp hàng trước mặt mình làm thủ tục nộp đơn kiện. Họ rất quen thân với các trợ lý thư ký, ngang nhiên tán tỉnh và tán gẫu không đầu không cuối. Hừm, tôi cũng muốn làm một luật sư phá sản quan trọng, khi đó các cô gái ở đây sẽ gọi tôi một cách thân mật là Fred hay Sunny rồi.

Năm ngoái có một vị giáo sư nói với chúng tôi rằng, do tình hình kinh tế không ổn định, cơ hội việc làm giảm sút và quy mô công ty thu hẹp, nên phá sản sẽ là một lĩnh vực không ngừng mở rộng trong tương lai. Ông ta nhìn nhận rất đúng. Người này khi hành nghề tư nhân chưa bao giờ tính phí khách hàng theo giờ cả.

Nhưng xem ra hôm nay tòa án phá sản đúng là có thể kiếm bộn tiền. Xung quanh đều đang xin phá sản. Hình như ai cũng muốn phá sản cả.

Tôi đưa tờ đơn cho một nữ thư ký đang bị vắt kiệt sức lực, một cô nàng xinh đẹp đang nhai kẹo cao su. Cô ta liếc nhìn đơn, rồi cẩn thận nhìn tôi từ đầu đến chân. Tôi đang mặc chiếc áo sơ mi vải thô và quần kaki.

"Anh là luật sư à?" Cô ta hỏi với tông giọng khá cao. Tôi nhận ra mọi người đều đang nhìn mình.

"Không phải."

"Vậy anh là con nợ?" Cô ta hỏi với tông giọng còn cao hơn, miệng nhai kẹo cao su rất ngon lành.

"Đúng vậy." Tôi đáp nhanh. Con nợ mặc dù bản thân không phải luật sư cũng có thể nộp đơn xin phá sản, mặc dù bạn sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy điều khoản công khai này ở bất cứ đâu.

Cô ta gật đầu đồng ý, đóng dấu lên tờ đơn. "Phí nộp đơn là 80 đô la."

Tôi đưa cho cô ta 4 tờ tiền 20 đô la. Cô ta nhận lấy tiền mặt, nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Trên đơn của tôi không liệt kê số tài khoản ngân hàng, vì hôm qua tôi đã hủy nó, qua đó xóa bỏ hiệu quả một khoản tài sản trị giá 11,84 đô la. Các tài sản khác tôi liệt kê là: một chiếc xe Toyota cũ – 500 đô la; đồ nội thất và trang trí các loại – 150 đô la; đĩa CD – 200 đô la; sách luật – 125 đô la; quần áo – 150 đô la. Những tài sản này đều là vật dụng cá nhân, do đó đều có thể được miễn trừ nghĩa vụ trả nợ theo điều khoản tôi đã nhắc đến trước đó. Tôi vẫn có thể sở hữu, nhưng phải tiếp tục trả góp cho chiếc Toyota.

"Tiền mặt, hửm?" Cô ta nói, rồi bắt đầu viết biên lai cho tôi.

"Tôi không có tài khoản ngân hàng." Tôi gần như đang hét lên với cô ta, để những người vẫn đang nghe chúng ta nói chuyện, và có lẽ rất muốn biết phần còn lại của câu chuyện này nghe rõ hơn.

Cô ta trừng mắt nhìn tôi. Tôi cũng trừng mắt nhìn cô ta. Cô ta quay lại công việc bận rộn của mình, một lát sau, đẩy về phía tôi một bản sao tờ đơn và một tờ biên lai. Tôi chú ý đến ngày, giờ và địa điểm của phiên điều trần đầu tiên.

Tôi gần như sắp đi đến cửa thì có người chặn lại. Một thanh niên béo mập, mặt đầy mồ hôi, để chòm râu dê đen, khẽ chạm vào cánh tay tôi. "Xin lỗi, thưa ông," anh ta nói. Tôi dừng bước nhìn anh ta. Anh ta nhét một tấm danh thiếp vào tay tôi. "Robbie Molke, luật sư. Vô tình nghe thấy cuộc trò chuyện vừa rồi của anh. Tôi nghĩ anh xử lý vụ BK có lẽ cần người giúp một tay."

BK nghĩa là phá sản, là biệt ngữ tuyệt vời trong giới luật sư.

Tôi nhìn danh thiếp, rồi nhìn khuôn mặt đầy sẹo rỗ của anh ta. Tôi quả thực từng nghe người ta nhắc đến Molke. Tôi cũng từng thấy quảng cáo của anh ta trên mục quảng cáo phân loại của báo chí. Trong quảng cáo, anh ta ghi phí thủ tục phá sản là 150 đô la, còn bây giờ anh ta lại như một kẻ tham lam vô độ lảng vảng trong văn phòng thư ký, chờ đợi cơ hội lao vào một gã phá sản ngốc nghếch nào đó có khả năng chi trả 150 đô la.

Tôi lịch sự nhận lấy danh thiếp. "Cảm ơn anh, không cần đâu." Tôi cố gắng nói một cách hòa nhã. "Tôi tự mình xử lý được."

"Anh sẽ làm hỏng bét đấy!" Anh ta lập tức đáp lời. Tôi tin rằng anh ta đã nói câu này hàng ngàn lần rồi. "Xử lý vụ án phá sản rất phức tạp! Một năm tôi xử lý hàng ngàn vụ. Anh chỉ cần trả trước 200 đô la, tôi sẽ làm xong xuôi cho anh ngay lập tức. Tôi có một văn phòng, nhân sự đầy đủ."

Bây giờ giá đã nâng lên 200 đô la rồi! Nếu bạn chủ động tìm anh ta, tôi đoán anh ta còn phải "chém" thêm 50 đô la nữa. Lúc này nếu dạy cho anh ta một bài học thì đương nhiên là danh chính ngôn thuận, rất dễ dàng, nhưng tôi cảm thấy Molke không phải loại người có thể tùy tiện sỉ nhục.

"Cảm ơn, không cần." Tôi vừa nói vừa lách qua người anh ta.

Chen chúc trong thang máy đi xuống, tôi gần như đang chịu tội. Thang máy chạy rất chậm, bên trong chật ních luật sư, tất cả đều ăn mặc lôi thôi, kẹp những chiếc cặp da cũ kỹ, đi những đôi giày cũ nát. Họ vẫn đang líu lo tranh luận cái gì có thể miễn trừ, cái gì là không có thế chấp, cái gì là có thế chấp. Cuộc trò chuyện của luật sư thật không thể chịu nổi, nhưng vấn đề thảo luận lại quan trọng đến kinh người. Họ dường như sẽ lải nhải không bao giờ dứt.

Vào khoảnh khắc thang máy sắp xuống đến tầng trệt, một câu hỏi đột nhiên lóe lên trong đầu tôi. Một năm sau, giờ này tôi sẽ đang làm gì? Tôi không biết. Nhưng không chỉ là có lẽ, mà khả năng rất cao là tôi đang đi cùng chiếc thang máy này, và đang tranh luận những vấn đề nhạt nhẽo tương tự với những người có mặt ở đây. Khả năng rất cao là tôi sẽ giống hệt họ, lang thang trên đường phố, vắt óc tìm cách móc phí thủ tục từ túi những kẻ không một xu dính túi, hoặc lảng vảng quanh tòa án tìm cơ hội làm án.

Suy nghĩ đáng sợ này khiến tôi chóng mặt. Trong thang máy vừa nóng vừa ngột ngạt. Tôi sợ mình sắp phát bệnh. Thang máy cuối cùng cũng dừng lại. Họ ùa vào sảnh chờ, tản ra khắp nơi, vẫn tiếp tục tranh luận, vẫn tiếp tục bàn chuyện làm ăn.

Tôi dọc theo đại lộ thương mại Trung Mỹ tản bộ. Không khí trong lành khiến tinh thần tôi phấn chấn. Con phố này trước đây gọi là Đại lộ, là một con phố dành cho người đi bộ không được phép có xe cộ qua lại, trên phố có những chiếc xe đẩy chở đầy những kẻ say rượu qua lại. Tòa nhà tòa án chỉ cách đây vài dãy phố, nên nhiều luật sư vẫn thường xuyên lảng vảng ở đây. Tôi đi ngang qua từng tòa cao ốc ở khu trung tâm, trong lòng suy đoán cảnh tượng bên trong vô số văn phòng luật sư đặt tại các tòa nhà này lúc này: các luật sư đang bận rộn không ngừng tay, họ buộc phải làm việc 18 tiếng mỗi ngày, vì gã đồng nghiệp bên cạnh làm đến tận 20 tiếng; các cộng sự có thâm niên thấp hơn đang thảo luận chiến thuật chiến lược cho văn phòng; các cộng sự thâm niên đang ngồi trong văn phòng trang trí lộng lẫy ở góc tòa nhà, thao thao bất tuyệt đưa ra chỉ thị cho một đám luật sư trẻ tuổi đang cúi đầu phục tùng.

Thú thật, khi mới vào trường luật, cảnh tượng này chính là điều tôi mơ ước. Tôi muốn làm việc cùng những con người sắc sảo, tinh thần cao ngút, tất cả mọi người đều chịu áp lực khổng lồ, đều phải hoàn thành những nhiệm vụ quá tải trong thời hạn quy định. Điều tôi muốn chính là áp lực và quyền lực như vậy. Mùa hè năm ngoái, văn phòng tôi làm thuê có quy mô rất nhỏ, chỉ có 12 luật sư, nhưng lại có nhiều thư ký, trợ lý luật sư và nhân viên văn phòng, đôi khi tôi thấy cảnh tượng bận rộn đó lại khá phấn khích. Tôi chỉ là một thành viên nhỏ bé trong đội ngũ làm việc đó, nhưng tôi khao khát một ngày nào đó có thể trở thành người đứng đầu nó.

Tôi mua một cây kem từ người bán hàng rong, tìm một chiếc ghế trên quảng trường tòa án ngồi xuống. Những con chim bồ câu trên mặt đất ngẩng đầu nhìn tôi. Tòa nhà Federal số 1 cúi đầu nhìn tôi. Đây là tòa nhà cao nhất Memphis, cũng là nơi làm việc của văn phòng Trent & Brent. Nếu tôi muốn vào văn phòng này làm việc, thật sự còn khó hơn lên trời. Nhưng tôi và các bạn của mình muốn nguyền rủa nó thì lại vô cùng dễ dàng. Chúng tôi nguyền rủa nó, vì chúng tôi không đạt tiêu chuẩn của nó. Chúng tôi căm ghét nó, vì nó thậm chí còn không thèm nhìn chúng tôi lấy một cái, đến một cơ hội phỏng vấn cũng không thèm bố thí.

Tôi đoán ở mỗi thành phố đều có một Trent & Brent, trong mỗi lĩnh vực cũng đều có một Trent & Brent. Tôi đã không có cửa bước vào, tôi đã không liên quan gì đến nó, vậy thì tôi sẽ căm ghét nó cả đời.

Nói đến văn phòng luật, tôi nghĩ vì giờ mình đang ở trung tâm thành phố, chi bằng dành vài tiếng đồng hồ, gõ cửa những văn phòng đó thử vận may xem sao. Tôi có trong tay một danh sách luật sư, họ hoặc là mở văn phòng riêng, hoặc là góp vốn cùng một hai người khác. Yếu tố duy nhất đáng khích lệ để bước chân vào giới luật sư đã chật kín chỗ đến mức này là có quá nhiều cánh cửa để tôi gõ từng cái một. Tôi luôn không ngừng tự khích lệ bản thân, vào một khoảnh khắc tốt đẹp nào đó, tôi nhất định có thể tìm thấy một văn phòng mà trước đây chưa ai từng ghé qua, bắt lấy một vị luật sư đang bận rộn đến mức chóng mặt nên đang khao khát tìm một người mới vào nghề để sai vặt cho anh ta hoặc cô ta. Rốt cuộc là anh ta hay cô ta, tôi đều không quan tâm.

Tôi đi vài dãy phố, đến tòa nhà Sterick. Đây là tòa cao ốc đầu tiên được xây dựng ở thành phố Memphis, ngày nay trở thành nơi làm việc của hàng trăm luật sư. Tôi trò chuyện với vài nữ thư ký, trao sơ yếu lý lịch của mình. Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy nhiều văn phòng luật lại thuê những người phụ nữ có tính cách u ám, thậm chí thô lỗ làm lễ tân. Tôi thường còn chưa kịp nói đến chuyện xin việc, họ đã sớm đối xử với tôi như kẻ ăn mày. Có hai người phụ nữ giành lấy sơ yếu lý lịch của tôi như cướp, rồi lập tức nhét vào ngăn kéo. Tôi thực sự muốn xuất hiện trước mặt họ với tư cách một khách hàng tiềm năng: một người chồng đau đớn tột cùng, vợ vừa bị một chiếc xe tải lớn cán chết, số tiền bảo hiểm của chiếc xe tải này lại lớn đến mức không thể lớn hơn, mà tài xế lại còn lái xe trong tình trạng say rượu. Có lẽ là xe tải của công ty Exxon. Khi đó, những con mụ ăn mặc sành điệu này chắc chắn sẽ bật dậy khỏi ghế như lò xo, mặt mày tươi cười, chạy tới rót cà phê cho tôi. Nhìn bộ dạng đó, mới thật là buồn cười chết mất.

Tôi ra khỏi văn phòng này lại bước vào văn phòng khác. Mặc dù rất muốn gào thét, nhưng vẫn giữ nụ cười trên môi, lặp đi lặp lại cùng một câu nói với những người phụ nữ cùng một giuộc. "Vâng. Tôi là Rudy Baylor, sinh viên năm ba trường Luật Đại học bang Memphis. Tôi muốn gặp ông nào đó, nói chuyện về công việc."

"Nói chuyện gì?" Họ luôn hỏi như vậy. Còn tôi thì luôn vừa tiếp tục mỉm cười, vừa đưa sơ yếu lý lịch ra, và một lần nữa yêu cầu được gặp ngài nhân vật lớn. Nhưng ngài nhân vật lớn luôn quá bận rộn, nên họ cũng luôn phất tay bảo tôi rời đi, đồng thời đảm bảo rằng sau đó sẽ có người liên lạc với tôi.

Khu Grange ở Memphis nằm ở phía bắc khu thương mại. Dọc hai bên những con phố rợp bóng cây, những dãy nhà gạch hẹp cho thấy một cách không thể chối cãi rằng, khu dân cư ở ngoại ô này được những người công nhân đổ dồn về các khu vực mới nổi khi Thế chiến II kết thúc chắp vá xây dựng nên. Những người công nhân này làm những công việc lương cao ở các nhà máy gần đó. Họ trồng cây trên bãi cỏ trước nhà, xây sân vườn trên bãi cỏ sau nhà. Theo thời gian, những người công nhân thích di chuyển này chuyển đến phía đông, xây dựng những ngôi nhà đẹp hơn ở đó, còn Grange dần dần biến thành nơi ở hỗn hợp của những người già nghỉ hưu sống bằng lương hưu và những người da trắng, da đen thuộc tầng lớp hạ lưu.

Ngôi nhà của vợ chồng nhà Black, vẻ ngoài giống hệt những ngôi nhà khác, được xây trên một mảnh đất rộng 80x100 feet. Cái cây đáng lẽ phải tỏa bóng mát trong sân trước có chút vấn đề. Trong gara chỉ chứa vừa một chiếc ô tô, có đỗ một chiếc Chevrolet cũ. Cỏ cây trong sân được cắt tỉa gọn gàng.

Bên trái nhà ông ta, người hàng xóm đang cải tạo xe đua, linh kiện và lốp xe vương vãi tận mép đường cái. Người hàng xóm bên phải đã dùng hàng rào lưới thép bao vây kín mít toàn bộ sân trước, cỏ dại bên trong mọc cao đến 1 foot. Hai con chó săn lông ngắn giống Đức đang tuần tra qua lại trên con đường đất bên trong hàng rào.

Tôi dừng xe trên lối xe chạy phía sau chiếc Chevrolet. Hai con chó săn cách tôi chưa đầy 5 feet bắt đầu sủa vang.

Tôi không hề vui vẻ khi đến đây, vì tôi không muốn nhìn thấy Donnie Ray Black. Tôi sợ anh ta bệnh tình nghiêm trọng, gầy gò trơ xương như mẹ anh ta mô tả, trong khi cá tính của tôi lại rất yếu đuối.

Bà ta đến cửa, trên tay cầm một điếu thuốc lá bạc hà, nhìn chằm chằm vào tôi qua hàng rào.

"Là cháu đây, bà Black, Rudy Baylor. Tuần trước chúng ta đã gặp nhau ở Cypress Gardens."

Những người bán hàng rong đi gõ cửa từng nhà ở Grange chắc chắn là những người không được chào đón, vì khi nhìn tôi, gương mặt bà ta không có chút biểu cảm nào. Bà ta bước lên phía trước một bước, ngậm điếu thuốc vào miệng.

"Không nhớ à? Cháu đang chuẩn bị giúp bà đòi bồi thường từ công ty bảo hiểm Great Benefit đây."

"Ta còn tưởng cháu là nhân chứng của Jehovah đấy."

"Hì, cháu không phải, bà Black ạ."

"Ta tên là Dot. Chẳng phải ta đã nói với cháu rồi sao."

"Vâng, Dot."

"Mấy kẻ đáng chết đó thực sự sắp làm ta phát điên lên rồi. Chúng, và cả mấy tên Mormon nữa. Bảo mấy đứa hướng đạo sinh sáng thứ Bảy mặt trời còn chưa mọc đã đến bán kẹo! Cháu muốn làm gì?"

"À, nếu bà có thời gian, cháu muốn nói chuyện về vụ án của bà."

"Vụ án làm sao?"

"Cháu muốn cùng bà nghiên cứu vài vấn đề."

"Ta cứ tưởng cháu nói chuyện xong rồi chứ."

"Chúng ta cần phải nói chuyện thêm một lần nữa."

Làn khói bà ta phun ra xuyên qua hàng rào bay về phía tôi. Bà ta chậm rãi mở cửa, tôi bước vào một phòng khách nhỏ, theo bà ta bước vào nhà bếp. Không khí trong nhà nóng ẩm, khắp nơi tràn ngập mùi thuốc lá đã mất vị.

"Có muốn uống chút gì không?"

"Cảm ơn, không ạ." Tôi ngồi xuống bên bàn. Dot rót một ly Coca, thêm đá, rồi đứng dựa lưng vào tủ bếp. Trong nhà không thấy bóng dáng Buddy. Donnie Ray có lẽ đang ở trong phòng ngủ.

"Buddy đâu rồi ạ?" Tôi hỏi bằng giọng vui vẻ, như thể ông ấy là một người bạn cũ mà tôi rất nhớ.

Bà ta dùng đầu chỉ về phía cửa sổ hướng ra sân sau. "Thấy chiếc xe cũ kỹ ngoài kia không?"

Ở một góc cỏ dại um tùm, bên cạnh cái nhà kho chứa đồ linh tinh rách nát, một chiếc Ford cũ đang đỗ dưới gốc cây phong. Hai cánh cửa màu trắng đều mở toang, trên đầu xe cuộn tròn một con mèo già, đang ở đó nhắm mắt dưỡng thần.

"Ông ấy đang ngồi trong xe đấy." Bà ta giải thích.

Xung quanh xe mọc đầy cỏ dại, bốn bánh xe đã không cánh mà bay. Dường như suốt mấy chục năm qua, mọi thứ xung quanh nó đều chưa từng có ai quấy rầy.

"Ông ấy định đi đâu ạ?" Tôi hỏi. Lúc này, trên mặt bà ta mới thực sự lộ ra nụ cười.

Bà ta uống một ngụm Coca thật lớn. "Buddy, ông ấy chẳng đi đâu cả. Chiếc xe đó ta mua năm 1964, mới tinh. Ông ấy ngồi trong xe mỗi ngày, ngồi suốt cả ngày, chỉ có Buddy và con mèo thôi."

Điều này nghe ra khá logic. Buddy ngồi đó một mình, không có khói thuốc lá làm hại hệ hô hấp, cũng không phải lo lắng phiền muộn vì Donnie Ray. "Tại sao ạ?" Tôi hỏi. Rõ ràng, khi nói về Buddy, bà ta không hề bận tâm.

"Buddy không bình thường. Ta đã nói với cháu rồi, tuần trước."

Sao mình lại có thể quên được chứ!

"Đường Ni-Lôi vẫn ổn chứ?"

Cô ta nhún vai, đi tới chiếc bàn ăn đóng bằng gỗ thô kệch rồi ngồi xuống đối diện tôi. "Lúc tốt lúc xấu. Anh muốn thăm nó à?"

"Để sau đi."

"Phần lớn thời gian nó đều nằm trên giường. Nhưng cũng còn đi lại được vài bước. Có lẽ trước khi anh đi, tôi sẽ gọi nó dậy."

"Ừ. Có lẽ vậy. À, vụ án này của cô tôi đã làm rất nhiều việc. Ý tôi là, tôi đã bỏ ra vô số giờ đồng hồ để nghiên cứu tất cả hồ sơ của cô. Thậm chí còn dành mấy ngày ở thư viện để tìm hiểu các luật lệ liên quan. Ừm, nói thật lòng thì tôi nghĩ các người hoàn toàn nên kiện công ty Đại Lợi đó."

"Chẳng phải chúng ta đã quyết định kiện từ lâu rồi sao?" Cô ta trừng mắt nhìn tôi đầy hung dữ. Nhìn gương mặt cô ta có thể thấy, đây là kiểu phụ nữ không chịu nhượng bộ dù mình đang nắm lý. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là kết quả của cuộc sống gian khổ mà cô ta phải chịu đựng cùng với gã quái dị đang ngồi trên chiếc xe Ford bên ngoài kia.

"Có lẽ vậy, nhưng tôi vẫn cần phải nghiên cứu thêm. Lời khuyên của tôi là: Cô hãy kiện chúng, kiện ngay lập tức."

"Vậy anh còn chờ đợi cái gì?"

"Nhưng cô không thể trông mong kết quả sẽ đến nhanh chóng được. Người cô kiện là một tập đoàn lớn. Chúng có rất nhiều luật sư, và luật sư thì có thể khiến vụ án kéo dài lê thê. Chúng sống bằng nghề đó mà."

"Vậy mất bao lâu mới có kết quả?"

"Có thể là vài tháng, cũng có thể là vài năm. Chúng ta có thể khởi kiện và ép chúng nhanh chóng dàn xếp ngoài tòa. Nhưng chúng cũng có thể ép chúng ta phải ra tòa trước, rồi sau đó mới kháng cáo. Chuyện này khó mà lường trước được."

"Nhưng nó không sống nổi vài tháng nữa đâu."

"Tôi có thể hỏi cô một chuyện không?"

Cô ta rít một hơi thuốc rồi gật đầu, hai động tác hài hòa đồng nhất, vô cùng hoàn mỹ.

"Lần đầu tiên công ty Đại Lợi từ chối yêu cầu bồi thường là tháng 8 năm ngoái, ngay sau khi Đường Ni-Lôi có kết quả chẩn đoán. Tại sao cô lại đợi đến tận bây giờ mới tìm luật sư?" Tôi dùng thuật ngữ "luật sư" mà không mấy chuẩn xác cho lắm.

"Chuyện này tôi làm không khôn ngoan, được chưa? Lúc đó tôi cứ tưởng công ty bảo hiểm sẽ làm theo đúng cam kết. Sẽ bồi thường tiền cho tôi, anh biết đấy, để trả hóa đơn và chi phí y tế cho thằng bé nhà tôi. Tôi viết thư cho chúng liên tục, chúng cũng hồi đáp liên tục. Tôi không biết vì sao nữa, chắc tại đầu óc tôi ngu muội thôi. Tôi đóng phí bảo hiểm đúng hạn, mấy năm trời chưa bao giờ chậm một lần, cứ nghĩ là bảo hiểm thì chúng chắc chắn sẽ không chối bỏ. Hơn nữa, tôi cũng chưa bao giờ cần đến luật sư, anh biết đấy, chưa từng ly hôn hay làm bất cứ việc gì tương tự như thế. Lạy Chúa, giá mà tôi biết sớm việc dùng luật sư thì tốt biết mấy!" Cô ta buồn bã quay người, nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh mắt lạnh lẽo hướng về chiếc xe Ford cũ nát, hướng về người đàn ông khiến cô ta đau lòng trong xe. "Buổi sáng nó uống một panh rượu Gin, buổi chiều lại uống thêm một panh nữa. Tôi chẳng để bụng chuyện đó. Chỉ cần uống rượu khiến nó vui là được. Chỉ cần nó không phải nằm lì trong nhà là được. Vả lại, cũng đâu phải vì uống rượu mà nó mới không thể làm gì nên hồn đâu. Anh hiểu ý tôi chứ?"

Cả hai chúng tôi đều đang nhìn Ba Địch, kẻ đang cúi đầu co quắp trên ghế trước của xe. Những đám cỏ dại mọc quá mức và cây phong đổ bóng thưa thớt lên thân xe. "Cô mua rượu cho anh ta à?" Tôi hỏi, như thể chuyện này rất quan trọng vậy.

"Ồ, không. Nó thuê một đứa trẻ hàng xóm mua hộ, mua xong lại lén lút đưa cho nó. Cứ tưởng tôi không biết đấy."

Từ phía sau ngôi nhà truyền đến tiếng bước chân. Trong nhà không có máy điều hòa, nên âm thanh nghe rất rõ. Có ai đó đang ho. "Này, Đa Đặc, tôi rất sẵn lòng nhận vụ án này cho cô. Tôi biết mình vẫn là kẻ mới vào nghề, một gã nhóc choắt sắp bước ra khỏi cổng trường luật. Nhưng tôi đã bỏ ra rất nhiều thời gian cho nó, tôi hiểu vụ án này hơn bất kỳ ai."

Cô ta không biểu cảm, trên mặt lộ rõ vẻ tuyệt vọng. Luật sư thì cũng là luật sư, người này với người kia thì có gì khác biệt? Giao vụ án cho tôi, chẳng phải cũng giống như giao cho người khác sao? Thật kỳ lạ. Mặc dù các vị luật sư đã đổ biết bao nhiêu tiền vào ngành quảng cáo cạnh tranh khốc liệt, phát biết bao nhiêu đoạn quảng cáo ngân sách thấp ngu ngốc trên truyền hình, dựng biết bao nhiêu tấm biển quảng cáo rách nát ngoài trời, đăng biết bao nhiêu mục rao vặt giá rẻ như bán thanh lý trên báo chí, thế mà trên thế giới này vẫn có những người như Đa Đặc-Bố Lai Khắc, không biết sự khác biệt giữa một luật sư tranh tụng giàu kinh nghiệm và một sinh viên năm ba trường luật là gì.

Tôi đặt cược vào sự ngây thơ thiếu hiểu biết đó của cô ta. "Có lẽ tôi phải tìm thêm một luật sư nữa để hỗ trợ. Cô biết đấy, chỉ là để mượn danh tiếng của ông ta trước khi tôi vượt qua kỳ thi tư pháp và lấy được bằng hành nghề."

Câu nói này dường như cũng chẳng có ảnh hưởng gì đến cô ta.

"Tôi phải tốn bao nhiêu tiền?" Cô ta hỏi, không chút nghi ngờ tôi.

Tôi gửi cho cô ta một nụ cười chân thành và nhiệt tình. "Một xu cũng không cần. Thắng kiện tôi mới lấy tiền. Trong số tiền bồi thường chúng ta nhận được sau này, tôi lấy một phần ba. Không lấy được bồi thường, tôi không lấy một xu. Cô không cần phải trả trước bất cứ thứ gì." Cô ta chắc chắn đã từng thấy kiểu thu phí thông thường này trong quảng cáo nào đó, nhưng lại tỏ ra hoàn toàn không biết gì.

"Bồi thường bao nhiêu?"

"Chúng ta sẽ yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường vài triệu." Tôi nói một cách khoa trương, và cô ta rõ ràng đã mắc câu. Tôi không cho rằng người phụ nữ bị dày vò này còn có tính tham lam. Những giấc mơ về cuộc sống tốt đẹp mà cô ta từng có, từ bao nhiêu năm trước đã sớm tan thành mây khói. Nhưng ý nghĩ đập cho công ty bảo hiểm Đại Lợi một cú thật đau, khiến chúng phải chịu khổ sở, lại rất hợp ý cô ta.

"Anh lấy một phần ba?"

"Tôi không trông mong tiền bồi thường thực sự sẽ lên tới vài triệu. Nhưng dù là bao nhiêu, tôi cũng chỉ lấy một phần ba. Hơn nữa, là một phần ba của số tiền còn lại sau khi đã trả hết chi phí y tế cho Đường Ni-Lôi. Vì vậy, cô sẽ không bị mất mát gì cả."

Bàn tay trái của cô ta đập mạnh xuống bàn. "Vậy thì làm thôi! Anh lấy bao nhiêu tôi không quan tâm, tôi chỉ muốn làm. Giờ làm luôn, hay là ngày mai?"

Trong túi tôi có một bản hợp đồng dịch vụ luật sư được gấp gọn gàng, tôi lấy từ một cuốn sổ mẫu trong thư viện. Lúc này, đáng lẽ tôi nên lấy nó ra để cô ta ký tên, nhưng tôi lại không thể làm thế. Về mặt đạo đức nghề nghiệp, trước khi vượt qua kỳ thi tư pháp và lấy được giấy phép hành nghề, tôi không được phép ký bất kỳ thỏa thuận nhận ủy thác nào. Tôi nghĩ, Đa Đặc không phải kiểu người nói mà không giữ lời.

Tôi bắt đầu nhìn đồng hồ liên tục như một luật sư thực thụ. "Tôi phải về làm việc đây," tôi nói.

"Không muốn thăm Đường Ni-Lôi à?"

"Để lần sau vậy."

"Tôi không trách anh. Nó chỉ còn da bọc xương thôi."

"Vài ngày nữa tôi sẽ lại đến, có thể ở lại lâu hơn. Chúng ta còn nhiều việc phải bàn, và tôi còn phải hỏi nó vài câu."

"Tranh thủ nhé, được không?"

Chúng tôi tán gẫu thêm vài phút về Vườn Bách Tùng và các hoạt động ăn mừng ở đó. Cô ta và Ba Địch đi một tuần một lần, nếu hôm đó cô ta có thể khiến anh ta không say khướt vào buổi sáng. Đó là dịp duy nhất hai vợ chồng họ cùng đi ra ngoài.

Cô ta còn muốn nói tiếp, nhưng tôi lại muốn chuồn. Cô ta tiễn tôi ra cửa, nhìn kỹ chiếc xe Toyota cũ nát và bẩn thỉu của tôi, lầm bầm chửi rủa hàng nhập khẩu, đặc biệt là mấy món đồ của Nhật, thỉnh thoảng lại quát tháo hai con chó săn lông ngắn giống Đức.

Cô ta đứng cạnh hòm thư, rít thuốc, đưa mắt nhìn chiếc xe của tôi biến mất ở phía xa.

Mặc dù vừa mới nộp đơn phá sản, tôi vẫn vung tay quá trán. Tôi bỏ ra 8 đô la mua một chậu hoa phong lữ, định tặng cho cô Bao Đệ. Cô ấy thích hoa, cô ấy đã từng nói vậy; hơn nữa cô ấy rất cô đơn, đó là điều chắc chắn. Vì vậy tôi muốn tặng cô một chậu hoa, coi như là một cử chỉ tốt đẹp. Chỉ là thêm một tia nắng vào cuộc sống của người già này mà thôi.

Tôi đến đó không sớm cũng không muộn, cô đang cúi người trong vườn hoa cạnh nhà. Bên cạnh vườn hoa là lối xe chạy, dẫn tới gara ô tô biệt lập ở sân sau. Hai bên lối đi mọc đầy hoa cỏ, dây leo và cây con trang trí. Tán cây rậm rạp cùng tuổi với cô che phủ bãi cỏ sau nhà. Trong sân sau lát gạch, giàn hoa nở rộ những bông hoa rực rỡ, đầy màu sắc.

Khi tôi dâng tặng món quà nhỏ đó cho cô, cô ôm chầm lấy tôi một cái thật chặt. Cô tháo găng tay, tiện tay ném vào bụi hoa rồi dẫn tôi ra phía sau nhà. Cô vừa vặn có chỗ để đặt chậu hoa phong lữ tôi tặng. Sáng mai cô sẽ trồng nó. "Cháu có muốn uống cốc cà phê không?"

"Uống chút nước là được rồi ạ," tôi nói. Cái hương vị tuyệt diệu của món cà phê hòa tan nhạt nhẽo của cô, tôi vẫn còn nhớ như in. Cô vừa phủi bụi đất trên tạp dề, vừa bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế trang trí cầu kỳ trên sân thượng.

"Nước đá nhé?" cô hỏi. Có thể mời tôi uống một ly rõ ràng khiến cô vô cùng vui mừng.

"Vâng ạ," tôi nói. Cô nhảy chân sáo đi vào trong, hướng về phía nhà bếp. Hoa cỏ cây cối trong sân sau tuy mọc quá rậm rạp, nhưng sân rất rộng, khoảng cách giữa ngôi nhà và hàng rào cây bụi rậm rạp ít nhất cũng phải 50 thước, vì vậy ngược lại lại tạo cho người ta một cảm giác cân đối kỳ lạ. Xuyên qua lùm cây, tôi có thể nhìn thấy mái nhà ở phía xa. Trong sân có vài bồn hoa nhỏ, các loại hoa đua nhau khoe sắc, rõ ràng là kết quả của việc cô hoặc ai đó đã không tiếc công sức chăm sóc tỉ mỉ. Trên sân thượng lát gạch cạnh hàng rào có một đài phun nước, nhưng lại không phun nước. Giữa hai cái cây treo một chiếc võng cũ, vải bạt rách nát và dây võng đung đưa trong gió nhẹ. Bãi cỏ không có cỏ dại, nhưng đang rất cần được cắt tỉa.

Gara thu hút sự chú ý của tôi. Hai cánh cửa đóng kín của nó có thể kéo lên trên. Một bên gara là nhà kho bị chặn cửa sổ, phía trên nhà kho có một căn hộ nhỏ, một chiếc cầu thang gỗ uốn lượn quanh góc, dẫn tới phía sau căn hộ. Căn hộ có hai cửa sổ lớn nhìn về phía ngôi nhà chính, một trong số đó đã bị vỡ kính. Cây thường xuân bò lên đang ăn mòn bức tường ngoài, và đang cố gắng xuyên qua cửa sổ vỡ để vào trong nhà.

Nơi này cho tôi một cảm giác kỳ quặc.

Cô Bao Đệ cầm hai ly nước đá, bước qua cửa kính sát đất, lạch bạch chạy tới trước mặt tôi. "Cháu thấy vườn của cô thế nào?" Cô hỏi sau khi ngồi xuống cạnh tôi.

"Rất đẹp, cô Bao Đệ ạ. Thật yên tĩnh!"

"Nó là cuộc sống của cô mà!" Cô vung tay một cách hào sảng. Nước trong ly bắn cả vào chân tôi, nhưng cô lại chẳng hề hay biết. "Cô dành toàn bộ thời gian ở đây. Cô yêu nó lắm."

"Đúng là rất đẹp. Tất cả việc này đều một mình cô làm ạ?"

"Ồ, phần lớn thôi. Cô thuê một cậu nhóc cắt cỏ, mỗi tuần cắt một lần, 30 đô la. Cháu tin là đắt thế không? Hồi trước 5 đô la là xong rồi." Cô ực một ngụm nước, chép miệng.

"Phía trên đó có phải là một căn hộ không ạ?" Tôi chỉ vào phía trên gara hỏi.

"Hồi trước là vậy. Một đứa cháu của cô từng ở đó một thời gian. Cô đã sửa sang lại, thêm một phòng vệ sinh, một nhà bếp nhỏ, làm đẹp đẽ lắm, không tệ chút nào. Lúc đó nó đang học đại học bang Memphis."

"Nó ở được bao lâu ạ?"

"Không lâu. Cô thực sự không muốn nhắc đến nó nữa."

Đứa cháu này, chắc chắn là một trong số những đứa cháu đã bị cô gạch tên khỏi di chúc.

Sau khi bạn dành rất nhiều thời gian gõ cửa từng văn phòng luật sư này đến văn phòng luật sư khác, cầu xin một công việc, mà lại liên tục phải chịu ánh mắt khinh miệt của những cô thư ký đanh đá, bạn sẽ vứt bỏ mọi kiêng dè. Da mặt bạn sẽ ngày càng dày hơn. Bạn sẽ chẳng còn bận tâm đến việc bị từ chối nữa, bởi vì bạn sẽ sớm hiểu ra: cho dù có tệ đến đâu, thì cũng chỉ là nghe đối phương nói một chữ "không" mà thôi.

"Cháu đoán, chắc bây giờ cô không muốn cho thuê nó đâu nhỉ?" Tôi bạo gan hỏi, không chút do dự, càng không lo bị cô từ chối.

Cái ly trong tay cô đang giơ giữa không trung, lúc này cô nhìn chằm chằm vào căn nhà nhỏ, như thể vừa mới phát hiện ra nó. "Cho ai thuê?" cô hỏi.

"Cháu rất muốn ở đây. Nơi này rất quyến rũ, và chắc chắn là rất yên tĩnh."

"Yên tĩnh như chết vậy."

"Nhưng, cháu không định ở lâu. Cháu biết mà, khi bắt đầu làm việc, cháu sẽ dọn đi ngay."

"Cho cháu thuê, Lỗ Địch?" cô hỏi đầy nghi hoặc.

"Cháu thích nơi này," tôi cười nửa thật nửa giả nói. "Nơi này rất phù hợp với cháu. Cháu độc thân, không thích ồn ào, cũng không trả nổi tiền thuê nhà quá đắt. Nơi này quá hợp với cháu rồi."

"Cháu trả được bao nhiêu?" cô hỏi thẳng thừng, đột nhiên trở nên rất giống một luật sư đang thẩm vấn thân chủ phá sản.

Tôi không kịp đề phòng. "Ồ, cháu không biết. Cô là chủ nhà, nên cô phải cho cháu biết tiền thuê là bao nhiêu chứ ạ."

Cô quay đầu, nhìn lùm cây đầy phấn khích. "400, không, một tháng 300 đô la thì thế nào?"

Cô Bao Đệ trước đây rõ ràng chưa từng làm chủ nhà, nên mới hét giá như vậy. May mắn thay, cô không mở miệng là đòi 800 đô la một tháng. "Cháu nghĩ tốt nhất nên xem nhà trước đã," tôi thận trọng nói.

Cô đứng dậy. "Nhà không tốt lắm đâu, cháu biết đấy, làm nhà kho suốt 10 năm rồi. Nhưng có thể sửa lại, chủ yếu là đường ống nước thôi, cô đoán vậy." Cô nắm tay tôi, đi qua bãi cỏ. "Chúng ta phải nối lại đường nước. Tình hình sưởi ấm và thông gió thì chưa rõ. Đồ đạc bên trong thì có vài món, nhưng không nhiều. Đồ cũ cô vứt hết rồi."

Cô bước lên chiếc cầu thang kêu kẽo kẹt. "Cháu có cần đồ đạc không?"

"Cháu không cần nhiều lắm ạ." Tay vịn cầu thang lung lay, cả ngôi nhà dường như đều đang rung chuyển—

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026