Sáu ngày sau khi chọn xong bồi thẩm đoàn, tức là 4 ngày trước khi khai đình, tôi nhận được một cuộc điện thoại tại văn phòng từ một luật sư ở Cleveland. Tôi lập tức sinh nghi vì mình chẳng quen biết ai ở đó cả. Tôi chỉ nói chuyện với hắn khoảng 10 giây, sau khi xác nhận danh tính của hắn, tôi liền nhẹ nhàng cắt đứt cuộc gọi ngay khi hắn vừa nói được một nửa câu. Sau đó, tôi làm y như mọi khi, giả vờ như cuộc gọi bị ngắt quãng vô cớ. "Dạo này sao điện thoại cứ hay mất sóng thế nhỉ?" Tôi càu nhàu với Đái Khắc, giọng đủ lớn để thu vào thiết bị nghe lén trong tai nghe. Chúng tôi rút phích cắm cả 3 chiếc điện thoại trong văn phòng, rồi chạy ra phố chui vào chiếc Volvo đang đỗ ở đó. Bố Tề đã kiểm tra, điện thoại trên xe rõ ràng không bị gắn máy nghe lén. Sau khi tra danh bạ, tôi gọi lại cho gã luật sư ở Cleveland kia.
Sự thật sau đó chứng minh, cuộc gọi này quan trọng vô cùng.
Hắn tên là Peter Kosha, chuyên về luật lao động và các loại phân biệt đối xử trong việc làm. Thân chủ của hắn là một phụ nữ trẻ tên là Jackie Lemanczyk. Sau khi bị Công ty Đại Lợi sa thải mà không có lý do chính đáng, cô đã tìm đến văn phòng của hắn để bàn cách đòi lại công đạo từ Đại Lợi. Trái với những gì Đại Lợi nói với tôi, cô Lemanczyk vẫn chưa rời khỏi Cleveland. Cô hiện đang sống trong một căn hộ mới, số điện thoại không được liệt kê trong danh bạ.
Tôi nói với Kosha rằng chúng tôi đã gọi hàng chục cuộc đến Cleveland nhưng vẫn không tìm thấy tung tích của Jackie. Một gã ở Đại Lợi tên là Richard Perrot từng nói với tôi rằng cô ấy đã về quê ở đâu đó tại Nam Indiana.
"Không đúng," Kosha nói. "Cô ấy chưa bao giờ rời khỏi Cleveland. Cô ấy luôn ẩn náu ở một nơi nào đó, không dám lộ diện."
Những gì cô ấy phải trải qua thật kích động, Kosha kể lại một cách đầy say sưa và chi tiết.
Trong thời gian làm việc tại Đại Lợi, thân chủ của hắn đã có quan hệ tình dục với vài vị cấp trên. Hắn khiến tôi tin rằng cô ấy rất xinh đẹp và quyến rũ. Việc thăng chức hay tăng lương của cô đều phụ thuộc vào việc cô có chịu "lên giường" với họ hay không. Có một thời gian, cô đảm nhiệm vị trí chuyên viên bồi thường cao cấp, là người phụ nữ duy nhất trong công ty leo lên được vị trí đó. Thế nhưng sau đó cô lại bị giáng chức, chỉ vì cô không muốn tiếp tục duy trì quan hệ tình dục với phó chủ tịch phụ trách bộ phận bồi thường là Everett Lovekin. Gã Lovekin này chẳng ra gì, ngoài việc nịnh hót thì chỉ thích giở trò đồi bại với phụ nữ.
Nếu nói Lovekin là kẻ nịnh hót, tôi hoàn toàn đồng ý. Khi lấy lời khai, tôi đã đối đầu với hắn suốt 4 tiếng đồng hồ, tuần tới khi hắn đứng trên bục nhân chứng, tôi sẽ còn tấn công dữ dội hơn nữa.
"Tuy vụ kiện của họ liên quan đến quấy rối tình dục, nhưng cô ấy cũng nắm rất rõ những bí mật bẩn thỉu trong bộ phận bồi thường của Đại Lợi. Cô ấy đã từng ngủ với phó chủ tịch phụ trách bộ phận đó đấy! Sẽ có hàng loạt vụ kiện nối tiếp nhau xảy ra," hắn dự đoán.
Cuối cùng, tôi tung ra câu hỏi quan trọng nhất: "Cô ấy có sẵn lòng đến làm chứng không?"
Hắn không biết. Có thể là có. Nhưng cô ấy sợ. Đám khốn đó có rất nhiều tiền. Còn hiện tại cô ấy đang trị liệu, sức khỏe rất yếu.
Hắn đồng ý để tôi nói chuyện điện thoại với cô ấy. Chúng tôi thỏa thuận một đêm khuya nào đó tôi sẽ gọi cho cô ấy từ chỗ ở của mình. Tôi giải thích cho hắn lý do tại sao không nên gọi đến văn phòng của tôi.
Giờ đây, ngoài chuyện khai đình, tôi không thể nghĩ đến bất cứ điều gì khác. Chỉ cần Đái Khắc không có ở văn phòng, tôi lại đi tới đi lui, lẩm bẩm một mình. Lúc thì tôi nói với bồi thẩm đoàn về việc Đại Lợi đã làm ác như thế nào, lúc lại khéo léo chất vấn đám người của Đại Lợi. Tôi nhỏ nhẹ đặt câu hỏi với Dottie, Long và Cord. Tôi dùng những lời lẽ lay động lòng người để hùng biện trước bồi thẩm đoàn, trình bày bài tranh luận kết thúc của mình. Thế nhưng, bảo tôi mở miệng yêu cầu bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết bắt đối phương bồi thường 10 triệu đô la, mà vẫn giữ được bộ mặt lạnh lùng, tôi vẫn cảm thấy rất khó. Có lẽ khi tôi 50 tuổi, đã trải qua hàng trăm vụ kiện và biết rõ mình đang làm gì, tôi mới có quyền yêu cầu bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết bồi thường 10 triệu đô la. Còn một kẻ mới ra trường được 9 tháng như tôi mà đưa ra yêu cầu đó, chắc chắn sẽ khiến người ta cười vỡ bụng.
Nhưng tôi vẫn cứ đưa ra. Tôi đưa ra yêu cầu này với họ trong văn phòng, trên xe, và đặc biệt là trong phòng ngủ, thường là vào lúc 2 giờ sáng khi tôi không thể chợp mắt. Tôi trò chuyện với họ, 12 khuôn mặt đó giờ tôi đã có thể gọi tên, họ đều là những người tốt không thể tốt hơn, vừa nghe tôi kể vừa gật đầu, chỉ hận không thể lập tức quay lại tòa để thực thi công lý.
Tôi sắp tìm thấy mỏ vàng rồi, sắp phá hủy Đại Lợi ngay tại tòa án công khai rồi. Tôi đấu tranh từng giây từng phút để kiểm soát những suy nghĩ đó. Nhưng, chết tiệt, thật khó! Những sự thật đó, những bồi thẩm viên đó, vị thẩm phán đó, đám luật sư sợ hãi của đối phương, tất cả kết hợp lại đồng nghĩa với vô vàn tiền bạc.
Chắc chắn là tôi có vấn đề gì rồi.
Tôi đã nói chuyện với Jackie Lemanczyk một tiếng đồng hồ. Có lúc cô ấy nói năng đầy phẫn nộ, có lúc lại nức nở nghẹn ngào. "Cô ấy không hề muốn ngủ với đám người đó," cô ấy lặp đi lặp lại; "nhưng đó là con đường duy nhất để thăng tiến." Cô ấy đã ly hôn, một mình nuôi hai đứa con.
Cô ấy đồng ý đến Memphis. Tôi đề nghị mình sẽ trả tiền vé máy bay khứ hồi cho cô ấy. Khi đưa ra đề nghị này, tôi dùng tông giọng bình tĩnh để cô ấy yên tâm: văn phòng của tôi rất dư dả. Cô ấy bắt tôi phải đảm bảo rằng, việc cô ấy đến đây làm chứng tuyệt đối không được để Đại Lợi biết được bất cứ tin tức gì.
Cô ấy sợ bọn họ đến chết. Tôi nghĩ, đến lúc đó khiến bọn họ kinh ngạc, cảnh tượng chắc chắn sẽ rất tuyệt.
Chúng tôi đã trải qua cuối tuần tại văn phòng. Sau khi mỗi người chợp mắt vài tiếng tại chỗ ở của mình, lại lập tức quay lại văn phòng như những con cừu biết lạc lối tìm đường về, tiếp tục chuẩn bị thêm cho phiên tòa.
Thỉnh thoảng tôi cũng có cảm giác nhẹ nhõm, đó là nhờ công của Dillon Kipler. Tôi đã thầm cảm ơn ông ấy hàng ngàn lần trong lòng, cảm ơn ông đã chọn ra bồi thẩm đoàn một tuần trước khi khai đình, và cho tôi cơ hội nói vài lời với họ. Bồi thẩm đoàn từng là một dấu hỏi lớn, là yếu tố khiến tôi vô cùng sợ hãi. Nhưng giờ đây tôi đã biết tên, quen mặt họ, thậm chí còn nói chuyện với họ mà không cần bản thảo. Họ thích tôi. Và không thích đối thủ của tôi.
Dù kinh nghiệm của tôi có thiếu sót đến đâu, tôi tin chắc thẩm phán Kipler sẽ giúp tôi lấp đầy những lỗ hổng đó.
Khoảng nửa đêm Chủ nhật, khi tôi chào tạm biệt Đái Khắc rời khỏi văn phòng, trời đang đổ tuyết nhẹ. Một trận tuyết nhẹ ở Memphis thường đồng nghĩa với việc trường học sẽ đóng cửa một tuần, các cơ quan chính phủ đều ngừng hoạt động. Vì chính quyền thành phố chưa từng mua một chiếc xe quét tuyết nào. Tôi nửa muốn tuyết rơi dày hơn, để bão tuyết trì hoãn phiên tòa ngày mai. Nhưng nửa kia của tôi lại hy vọng tuyết đừng rơi nữa.
Khi tôi lái xe về đến nhà, tuyết đã ngừng rơi. Tôi uống hai chai bia không ướp lạnh, cầu nguyện Chúa cho tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.
"Trước khi khai đình còn vấn đề gì không?" Kipler hỏi nhóm người đang căng thẳng ngồi trong văn phòng riêng của ông. Tôi ngồi cạnh Drummond, cả hai đều nhìn vị thẩm phán phía đối diện bàn làm việc. Vì thiếu ngủ, mắt tôi đỏ ngầu, đầu đau như búa bổ, suy nghĩ rối bời.
Tôi ngạc nhiên khi thấy Drummond mệt mỏi đến thế. Là một luật sư dày dạn kinh nghiệm đã dành cả đời trên tòa, dáng vẻ tiều tụy của ông ta thật đáng kinh ngạc. Tốt! Tôi hy vọng ông ta cũng đã dành cả cuối tuần để bận rộn với công việc.
"Tôi không nghĩ ra còn vấn đề gì nữa," tôi nói. Không ai ngạc nhiên cả. Trong những cuộc họp nhỏ như thế này, tôi rất ít khi đóng góp được gì nhiều.
Drummond cũng lắc đầu.
"Có thể xác định chi phí ghép tủy không?" Kipler hỏi. "Nếu được, chúng ta có thể hủy bỏ nhân chứng Gaskin. Chi phí phẫu thuật có vẻ rơi vào khoảng 175.000 đô la."
"Không ý kiến," tôi nói.
Nếu luật sư bào chữa cho bị cáo ép giá thấp xuống, bản thân họ có thể kiếm được nhiều hơn, nhưng Drummond ở đây lại không có miếng mỡ nào để húp. "Hợp lý," ông ta nói với thái độ lạnh nhạt.
"Đây có nghĩa là 'đồng ý' phải không?" Kipler hỏi dồn.
"Vâng."
"Cảm ơn, còn chi phí khác nữa. Khoảng 25.000 đô la. Tất cả chúng ta có đồng ý rằng tổng số tiền bồi thường thiệt hại mà nguyên đơn đưa ra là tròn 200.000 đô la không? Chúng ta đều đồng ý chứ?" Ông ấy thực sự đang trừng mắt nhìn Drummond.
"Không ý kiến," tôi nói. Tôi nghĩ Drummond chắc chắn đang bốc hỏa.
"Đồng ý," Drummond nói.
Kipler viết vài chữ vào sổ tay. "Cảm ơn. Trước khi khai đình, còn vấn đề gì khác không? Có khả năng hòa giải không?"
"Thưa thẩm phán," tôi nói với giọng kiên quyết. Đây là kết quả đã được cân nhắc kỹ lưỡng từ trước. "Tôi xin thay mặt thân chủ của mình tuyên bố tại đây, chúng tôi sẵn sàng hòa giải để kết thúc vụ án, với điều kiện bị cáo bồi thường 1,2 triệu đô la."
Luật sư của bị cáo thường được huấn luyện bài bản, bất kể luật sư nguyên đơn đưa ra phương án hòa giải nào, họ đều sẽ tỏ ra kinh ngạc. Không nằm ngoài dự đoán, điều kiện của tôi vừa thốt ra, đón nhận nó là hàng loạt cái lắc đầu và tiếng ho; thậm chí trong đám tùy tùng ngồi chen chúc sau lưng tôi còn có kẻ phát ra tiếng cười khẩy khinh bỉ.
"Cậu nghĩ hay thật đấy," Drummond nói đầy mỉa mai. Tôi thực sự nghĩ rằng Leo đang dần mất bình tĩnh. Khi vụ án mới bắt đầu, phong thái của ông ta đầy vẻ lịch lãm, là một chuyên gia hoàn hảo cả trong và ngoài tòa án. Nhưng giờ đây, cách thể hiện của ông ta lại giống như một cậu sinh viên năm hai thích bĩu môi gây sự.
"Không có đề nghị ngược lại sao, ông Drummond?" Kipler hỏi.
"Con số chúng tôi đưa ra là 200.000."
"Rất tốt, chúng ta bắt đầu ngay thôi. Mỗi bên có 15 phút để tóm tắt vụ án. Tất nhiên, các vị có thể nói ngắn gọn hơn."
Tôi đã đo đạc nhiều lần, bài tóm tắt vụ án của tôi không thừa không thiếu đúng 6 phút rưỡi. Bồi thẩm đoàn lần lượt vào tòa, sau khi nhận lời chào và nghe vài chỉ thị của thẩm phán, họ quay lại đối diện với tôi.
Nếu tôi thường xuyên làm cái trò này, biết đâu một ngày nào đó tôi có thể luyện được khả năng diễn xuất. Đó là chuyện của tương lai. Hiện tại, tôi chỉ muốn nói nhanh cho xong. Tôi cầm cuốn sổ tay, thỉnh thoảng liếc nhìn, tóm tắt vụ án cho bồi thẩm đoàn. Tôi đứng cạnh bục, thầm hy vọng bộ vest xám mới mặc trên người có thể tăng thêm vài phần phong thái luật sư cho mình. Sự thật rõ ràng có lợi cho tôi, tôi không cần tốn quá nhiều lời cho chúng. Thân chủ của tôi đã mua bảo hiểm, đóng phí hàng tuần đúng hạn, phạm vi bảo hiểm bao gồm cả Donnie Ray, cậu bé mắc bệnh, sau đó phải chịu đựng đau đớn. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của cậu rất rõ ràng. Quý vị bồi thẩm viên sẽ được thấy Donnie Ray, nhưng chỉ qua băng ghi hình. Cậu ấy đã chết. Mục đích của vụ án này, không chỉ nhằm ép Đại Lợi chi trả khoản tiền lẽ ra phải trả từ đầu, mà còn phải trừng trị nghiêm khắc hành vi bất hợp pháp của nó. Đại Lợi tài sản hùng hậu, nó thu phí bảo hiểm nhưng lại từ chối chi trả tiền bồi thường để kiếm lợi nhuận khổng lồ. Sau khi tất cả nhân chứng làm chứng xong, tôi sẽ lại đứng đây yêu cầu quý vị, các bồi thẩm viên, đưa ra phán quyết bắt Đại Lợi phải trả một khoản bồi thường trừng phạt khổng lồ.
Gieo hạt giống này ngay từ đầu là vô cùng quan trọng. Tôi muốn họ hiểu rằng, số tiền chúng tôi muốn đòi là rất lớn, và Đại Lợi đáng bị trừng trị nghiêm khắc.
Phần trình bày của tôi diễn ra rất suôn sẻ. Tôi không nói lắp, không run rẩy, cũng không khiến Drummond phản đối. Tôi có thể dự đoán rằng, trong phần lớn thời gian xét xử vụ án này, Leo sẽ luôn dán chặt mông vào ghế. Ông ta không muốn bị Kipler làm nhục, đặc biệt là trước mặt bồi thẩm đoàn.
Tôi ngồi xuống cạnh Dottie. Trên hàng ghế nguyên đơn dài, chỉ có cô ấy và tôi ngồi đó.
Drummond đầy tự tin sải bước tới trước bồi thẩm đoàn. Ông ta cầm một bản hợp đồng bảo hiểm, mở đầu đầy kịch tính: "Đây chính là bản hợp đồng bảo hiểm mà vợ chồng nhà Black đã mua," ông ta vừa nói vừa giơ bản hợp đồng lên cho mọi người nhìn thấy. "Và trong bản hợp đồng này, không có bất cứ chỗ nào nói rằng Đại Lợi phải chi trả chi phí ghép tủy." Để tăng hiệu quả, ông ta cố tình dừng lại rất lâu. Các bồi thẩm viên tuy không thích ông ta, nhưng lời nói của ông ta cũng thu hút sự chú ý của họ. "Chi phí của bản hợp đồng này là 18 đô la một tuần, phạm vi không bao gồm ghép tủy, thế nhưng nguyên đơn của vụ án lại trông chờ thân chủ của tôi chi trả 200.000 đô la, cho cái gọi là, quý vị chắc chắn đoán đúng rồi đấy, chi phí phẫu thuật ghép tủy. Thân chủ của tôi đã từ chối yêu cầu này, nhưng tuyệt đối không phải vì bất kỳ ác ý nào với Donnie Ray Black. Đối với thân chủ của tôi, đây không phải là vấn đề sống chết, mà là vấn đề có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không." Ông ta vung vẩy bản hợp đồng như đang diễn kịch, hơn nữa còn vung rất mạnh. "Họ không chỉ muốn có được 200.000 đô la mà họ không có quyền nhận, họ còn kiện thân chủ của tôi vì họ muốn có thêm 10 triệu đô la tiền bồi thường bổ sung! Họ nói đây là bồi thường trừng phạt. Tôi nói đây là nực cười. Tôi muốn nói đây là tham lam."
Lời nói này tuy không phải là bắn tên không đích, nhưng cũng đầy rủi ro. Hợp đồng tuy loại trừ rõ ràng các ca phẫu thuật cấy ghép nội tạng, nhưng không hề nhắc đến tủy xương, mà tủy xương không phải là nội tạng. Người soạn thảo hợp đồng lúc đó đã lú lẫn, để lại một lỗ hổng lớn. Còn trong bản hợp đồng mới được làm lại mà Max Leberg đưa cho tôi, lại có văn bản rõ ràng loại trừ ghép tủy ra khỏi phạm vi bảo hiểm.
Chiến lược của bị cáo đã lộ rõ. Họ sẽ không thừa nhận một công ty lớn như vậy có quá nhiều nhân viên, khó tránh khỏi có nhân viên không đủ năng lực phạm sai lầm, và dùng điều đó để dây dưa với chúng tôi. Chiến lược hiện tại của Drummond là không thừa nhận bất cứ điều gì. Ông ta khẳng định phẫu thuật ghép tủy cực kỳ không đáng tin cậy, thuộc loại hàng giả hàng nhái, tuyệt đối không phải là phương pháp thông thường được công nhận để điều trị bệnh bạch cầu.
Ông ta nói thao thao bất tuyệt, như một bác sĩ nói không ngừng nghỉ về khó khăn trong việc tìm người hiến tủy phù hợp, có những ca bệnh xác suất tìm được chỉ là một phần vài triệu; ngay cả khi may mắn tìm được, tỷ lệ thành công của ca phẫu thuật cũng rất thấp. Ông ta lặp đi lặp lại câu nói quen thuộc của mình: "Cái này hoàn toàn không thuộc phạm vi bảo hiểm quy định!"
Ông ta quyết tâm kích động tôi. Khi ông ta nhắc đến từ "tham lam" lần thứ hai, tôi lập tức đứng dậy phản đối. Tóm tắt vụ án vốn không phải là nơi để tranh luận, tranh luận phải đợi đến cuối cùng. Ông ta chỉ nên nói cho bồi thẩm đoàn biết quan điểm của mình về bằng chứng.
Kipler, vị Kipler đáng yêu này, tôi vừa dứt lời, ông ấy lập tức nói: "Phản đối hợp lệ."
Trận giao tranh đầu tiên, chiến thắng thuộc về tôi.
"Tôi rất tiếc, thưa thẩm phán," Drummond nói một cách chân thành. Ông ta bắt đầu nói về nhân chứng của mình, danh tính của họ, nội dung lời khai của họ. Ông ta đã nản chí, nói cũng đã được 10 phút, lẽ ra nên dừng ở đó, nhưng ông ta vẫn kéo dài cho đủ 15 phút, cho đến khi Kipler nói với ông ta rằng thời gian đã hết, lúc đó mới cảm ơn bồi thẩm đoàn.
"Triệu tập nhân chứng đầu tiên của cậu đi, ông Baylor," Kipler nói. Tôi nghĩ có sợ cũng không kịp nữa rồi.
Dottie Black đầy căng thẳng bước lên bục nhân chứng, tuyên thệ xong liền ngồi xuống, nhìn các bồi thẩm viên. Cô mặc một bộ váy cotton bình thường, quần áo đã cũ nhưng trông rất sạch sẽ.
Chúng tôi, Dottie và tôi, có một kịch bản. Một tuần trước tôi đã đưa cho cô ấy, chúng tôi đã luyện tập 10 lần. Tôi đặt câu hỏi, cô ấy trả lời. Cô ấy sợ đến chết, và điều này hoàn toàn hợp tình hợp lý. Khi trả lời, cô ấy nói năng cứng nhắc, từng câu từng chữ. Tôi từng nói với cô ấy, nếu cô ấy căng thẳng một chút cũng không sao, bồi thẩm viên chẳng phải cũng là người bằng xương bằng thịt sao. Tên tuổi, chồng, gia đình, nghề nghiệp, hợp đồng bảo hiểm, tình trạng cô và chồng sống cùng nhau trước khi Donnie Ray bệnh, tình trạng sống cùng nhau sau khi cậu bé bệnh, và tình trạng cuộc sống của cô sau khi cậu bé qua đời. Cô lau nước mắt vài lần nhưng không mất bình tĩnh. Tôi từng dặn cô cố gắng đừng khóc, ai cũng biết cô đau buồn đến mức nào.
Cô thuật lại nỗi đau xót của người mẹ không thể cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho đứa con trai yêu quý đang hấp hối. Cô đã viết nhiều lá thư và gọi nhiều cuộc điện thoại cho Đại Lợi. Cô còn viết thư, gọi điện cho các nghị sĩ, thượng nghị sĩ và thị trưởng để cầu xin sự giúp đỡ, nhưng nỗ lực của cô đều không có kết quả. Cô đã tìm đến nhiều bệnh viện trong thành phố, cầu xin họ cung cấp dịch vụ điều trị miễn phí. Cô còn tổ chức bạn bè, hàng xóm quyên góp tiền viện phí, nhưng kết quả cũng thảm hại không kém. Cô xác nhận bản hợp đồng và đơn đăng ký, trả lời các câu hỏi tôi đặt ra liên quan đến việc mua hợp đồng và Bobby Otto, kẻ hàng tuần đến thu phí bảo hiểm.
Tiếp đó chúng tôi bắt đầu đề cập đến đống tài liệu quý giá đó. Tôi đưa cho cô 7 lá thư từ chối bồi thường ban đầu, cô lần lượt đọc cho bồi thẩm đoàn nghe. Nội dung của những lá thư này đọc lên còn tệ hơn tôi mong đợi. Từ chối thẳng thừng, không hề đưa ra bất kỳ lời giải thích nào. Bộ phận bồi thường từ chối với lý do chờ bộ phận bảo hiểm xét duyệt. Bộ phận bảo hiểm từ chối với lý do chờ bộ phận bồi thường xét duyệt. Bộ phận bồi thường căn cứ vào tình trạng tồn tại trước đó để từ chối. Bộ phận bảo hiểm từ chối với lý do Donnie Ray đã trưởng thành không còn là thành viên gia đình. Bộ phận bồi thường khẳng định ghép tủy không thuộc phạm vi bảo hiểm nên từ chối. Bộ phận bồi thường khẳng định ghép tủy thuộc giai đoạn thử nghiệm sơ bộ chứ không phải phương pháp điều trị được công nhận nên từ chối.
Các bồi thẩm viên nín thở lắng nghe từng chữ. Mùi hôi thối tỏa ra từ những lá thư này bao trùm lấy mọi người.
Tiếp theo là lá thư "ngu xuẩn tột độ" đó. Dottie đọc, tôi chăm chú nhìn mặt các bồi thẩm viên. Có vài người lộ rõ vẻ kinh ngạc. Có vài người không thể tin vào tai mình, không ngừng chớp mắt. Còn có vài người trừng mắt nhìn về phía ghế bị cáo, mà điều kỳ lạ là, tất cả thành viên trong đội ngũ luật sư của bị cáo lúc này đều cúi đầu trầm tư suy nghĩ.
Dottie đọc xong những lá thư đó, tòa án im lặng như tờ.
"Xin hãy đọc lại lá thư đó một lần nữa," tôi nói.
"Phản đối," Drummond nhanh chóng đứng dậy nói.
"Phản đối bị bác bỏ," Kipler quát.
Dottie lại đọc thêm một lần nữa, đọc một cách bình tĩnh hơn, giàu cảm xúc hơn. Đây chính là thời điểm tốt nhất để tôi kết thúc phần hỏi đáp với cô ấy, vì vậy sau khi chào bồi thẩm đoàn, tôi đi về chỗ ngồi của mình. Drummond bước lên bục. Nếu ông ta đối xử thô bạo với cô ấy, thì ông ta đã sai lầm hoàn toàn; tôi nghĩ ông ta sẽ không làm vậy.
Ông ta bắt đầu từ những hợp đồng bảo hiểm cô ấy mua trước đây, đặt vài câu hỏi chung chung, rồi chuyển chủ đề, hỏi cô vì lý do gì mà mua bản hợp đồng này. Khi mua bản hợp đồng này cô dự định điều gì? Dottie chỉ muốn bao gồm cả gia đình, chỉ có vậy thôi. Mà người môi giới lúc đó cũng đảm bảo như vậy. Người môi giới có đảm bảo với cô rằng bản hợp đồng này bao gồm cả phẫu thuật cấy ghép không?
"Lúc đó chúng tôi làm gì nghĩ đến chuyện phẫu thuật cấy ghép chứ," cô nói. "Chúng tôi chưa bao giờ cần cấy ghép cả." Trên bồi thẩm đoàn có vài người mỉm cười, nhưng không ai cười thành tiếng.
Drummond đi đường vòng, ép hỏi liên tục xem lúc đó cô có ý định rõ ràng muốn mua một bản hợp đồng bao gồm cả ghép tủy hay không. Lúc đó cô thậm chí còn chưa nghe nói đến thứ này, cô cũng lặp đi lặp lại câu trả lời như vậy.
"Vậy lúc đó cô không hề mong đợi rõ ràng rằng hợp đồng sẽ bao gồm nó?" ông ta hỏi.
"Lúc mua chúng tôi đâu có nghĩ đến những thứ đó. Chúng tôi chỉ cần nó bao gồm cả gia đình mình."
Ở vấn đề này Drummond đã ghi được một điểm nhỏ, nhưng tôi nghĩ, và hy vọng, bồi thẩm đoàn chẳng bao lâu nữa sẽ quên sạch nó.
"Tại sao cô lại kiện Đại Lợi, yêu cầu bồi thường 10 triệu đô la?" ông ta hỏi. Khi mới khai đình, câu hỏi này có thể dẫn đến kết quả thảm hại: nó khiến nguyên đơn trông có vẻ tham lam. Số tiền bồi thường nêu trong đơn kiện thường là do luật sư tự vắt óc nghĩ ra giá mà không được sự cho phép của thân chủ. Tôi hoàn toàn không hỏi Dottie xem cô muốn Đại Lợi bồi thường bao nhiêu.
Tuy nhiên, tôi đã nghiên cứu hồ sơ bào chữa trước đây của Drummond, đã sớm đoán được ông ta sẽ đặt câu hỏi này. Dottie đã chuẩn bị sẵn sàng.
"10 triệu?" cô hỏi.
"Đúng vậy, bà Black. Bà kiện thân chủ của tôi, yêu cầu bồi thường 10 triệu đô la."
"Chỉ có vậy thôi sao?" cô hỏi.
"Xin lỗi, tôi không hiểu ý bà."
"Tôi còn tưởng phải nhiều hơn 10 triệu chứ."
"Phải không?"
"Sao lại không? Thân chủ của ông có 1 tỷ, thân chủ của ông đã giết con trai tôi. Chết tiệt! Tôi muốn ông ta bồi thường nhiều hơn, nhiều hơn nữa."
Đầu gối của Drummond hơi chùng xuống, ông ta thay đổi trọng tâm cơ thể. Tuy nhiên, trên mặt vẫn treo một nụ cười, đúng là một thiên tài kiệt xuất. Đáng lẽ ông ta có thể hỏi một câu không quan trọng để nhân cơ hội xuống đài, hoặc đơn giản là đi thẳng về chỗ ngồi của mình. Nhưng ông ta lại phạm thêm một sai lầm nữa. Ông ta tung ra câu hỏi kinh điển của mình: "Giả sử bồi thẩm đoàn cho anh 10 triệu đô, anh dự định sử dụng số tiền đó như thế nào?"
Muốn trả lời ngay lập tức một câu hỏi như vậy tại phiên tòa công khai mà không cần suy nghĩ, độ khó có thể hình dung được. Thế nhưng, Dot đã sớm có sự chuẩn bị. "Gửi tất cả cho Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh Bạch cầu Mỹ. Chúng tôi không giữ lại một xu, tiền bẩn của các người, chúng tôi không cần một xu nào cả."
"Cảm ơn cô." Drummond nói mấy chữ đó rồi lập tức cụp đuôi chuồn về bàn bị cáo.
Khi Dot rời khỏi ghế nhân chứng và ngồi xuống bên cạnh tôi, có hai bồi thẩm viên thực sự đang khúc khích cười trộm. Mặt Drummond tái mét.
"Tôi làm thế nào?" Cô hỏi nhỏ.
"Cô làm ông ta bẽ mặt rồi, Dot." Tôi cũng nói nhỏ đáp lại.
"Tôi phải hút điếu thuốc."
"Sắp nghỉ giải lao rồi, nhịn một chút đi."
Tôi triệu tập Long Black ra tòa làm chứng. Anh ta cũng có một kịch bản, chưa đầy nửa giờ việc lấy lời khai đã kết thúc. Những điều duy nhất chúng tôi muốn anh ta xác nhận là: Anh ta đã từng làm xét nghiệm; anh ta hoàn toàn tương thích với người anh em song sinh của mình; anh ta luôn sẵn sàng hiến tủy cho Donnie Ray. Drummond không đặt câu hỏi nào. Lúc này đã gần 11 giờ, Kepler ra lệnh nghỉ giải lao 10 phút.
Dot không thể chờ đợi được nữa, chạy thẳng đến nhà vệ sinh, tìm một chỗ trống trốn vào hút một điếu. Tôi từng cảnh báo cô ấy không được hút thuốc trước mặt bồi thẩm đoàn. Tôi và Deck chen chúc ngồi cùng nhau, so sánh ghi chép của mỗi người. Ông ấy ngồi phía sau tôi, luôn quan sát phản ứng của các bồi thẩm viên. 7 lá thư từ chối bồi thường đó đã thu hút sự chú ý của họ, còn lá thư "ngu xuẩn hết chỗ nói" kia lại càng khiến họ phẫn nộ không nguôi.
"Cứ để họ nổi giận đi," Deck nói. "Để họ tiếp tục tức giận. Chỉ khi bồi thẩm đoàn phẫn nộ mới có thể giành được khoản bồi thường trừng phạt."
Khi bác sĩ Walter Cord bước lên ghế nhân chứng, ông đã để lại ấn tượng vô cùng nổi bật. Ông mặc một bộ đồ thể thao kẻ sọc, quần dài đen ống rộng, đeo cà vạt đỏ, hình tượng một bác sĩ trẻ thành đạt. Ông sinh ra ở Memphis, học xong trường dự bị tại thành phố này, sau đó đến Vanderbilt học đại học, tốt nghiệp Trường Y Đại học Duke. Học vấn và phẩm hạnh đều không chê vào đâu được. Tôi đã xem qua lý lịch của ông, tư cách chuyên gia ung bướu của ông là không thể công kích. Tôi đưa bệnh án của Donnie Ray cho ông, và ông đã tóm tắt quá trình điều trị cho bồi thẩm đoàn một cách dễ hiểu. Ông cố gắng sử dụng từ ngữ của người bình thường, còn các thuật ngữ chuyên môn cũng được giải thích rõ ràng. Ông là một bác sĩ, sự giáo dục khiến ông chán ghét tòa án, nhưng đối mặt với bồi thẩm đoàn, ông lại tỏ ra vô cùng thoải mái.
"Bác sĩ Cord, ông có thể giải thích căn bệnh này cho bồi thẩm đoàn không?" Tôi hỏi.
"Tất nhiên. Bệnh bạch cầu tủy cấp tính, còn gọi là AML, thường gặp ở hai nhóm tuổi. Một là thanh niên từ 20-30 tuổi, hai là người già trên 70 tuổi. Người da trắng mắc AML nhiều hơn người không phải da trắng. Vì một vài lý do chưa rõ, người gốc Do Thái mắc bệnh này cũng nhiều hơn những người khác. Đàn ông mắc bệnh này nhiều hơn phụ nữ. Nguyên nhân chính gây ra bệnh bạch cầu hiện vẫn chưa rõ ràng."
"Cơ thể người tạo máu trong tủy xương, và tủy xương chính là nơi AML xâm nhập. Các tế bào bạch cầu của bệnh nhân bạch cầu, tức là những tế bào chịu trách nhiệm chống nhiễm trùng, đã biến thành tế bào ung thư, số lượng tế bào tăng vọt, vượt quá số lượng bình thường hơn 100 lần. Khi tình trạng này xảy ra, số lượng hồng cầu sẽ giảm xuống, da bệnh nhân trở nên tái nhợt, cơ thể suy nhược, thiếu máu. Cùng với việc tế bào bạch cầu tăng lên đáng kể, chúng ức chế cơ chế bình thường sản sinh tiểu cầu, tiểu cầu là loại tế bào thứ ba được tìm thấy trong tủy xương. Sự sụt giảm của nó dẫn đến xuất huyết dưới da, chảy máu và đau đầu. Lần đầu tiên Donnie Ray đến phòng khám của tôi, cậu ấy đã than phiền về các triệu chứng như chóng mặt, khó thở, mệt mỏi, sốt và các triệu chứng giống như cúm."
Tuần trước khi tôi cùng Cord diễn tập, tôi đã yêu cầu ông gọi người quá cố là Donnie Ray, chứ không gọi là ông Black hay bệnh nhân A, bệnh nhân B.
"Vậy ông đã làm gì?" Tôi hỏi. Điều này rất dễ trả lời, tôi thầm nhủ trong lòng.
"Tôi đã thực hiện một biện pháp chẩn đoán thông thường, gọi là chọc hút tủy xương."
"Ông có thể giải thích cho bồi thẩm đoàn không?"
"Được. Chọc hút được thực hiện trên phần trên xương đùi của Donnie Ray. Tôi để cậu ấy nằm úp mặt. Gây tê một vùng da nhỏ, cắt một vết nhỏ rồi cắm một cây kim lớn vào. Cây kim này thực tế có hai phần. Bên ngoài là một ống rỗng, bên trong là một ống đặc. Sau khi kim cắm vào tủy xương, rút ống đặc ra, đồng thời lắp một ống hút rỗng vào đầu kim. Như vậy nó giống như một ống tiêm, tôi dùng nó để rút một lượng nhỏ tủy xương dạng lỏng. Sau khi tủy xương được rút ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp xét nghiệm thông thường để tính số lượng hồng cầu và bạch cầu. Không còn nghi ngờ gì nữa, cậu ấy bị bệnh bạch cầu cấp tính."
"Chi phí cho lần kiểm tra này là bao nhiêu?" Tôi hỏi.
"Khoảng 1000 đô la."
"Vậy Donnie Ray đã chi trả phí kiểm tra này như thế nào?"
"Lần đầu tiên đến phòng khám của tôi, cậu ấy điền vào các mẫu đơn thông thường và nói rằng cậu ấy nằm trong phạm vi bảo hiểm của một hợp đồng bảo hiểm y tế do Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Đại Lợi bán. Nhân viên của chúng tôi đã đối chiếu với công ty Đại Lợi và chứng minh quả thực có một hợp đồng bảo hiểm như vậy. Vì thế tôi mới tiến hành điều trị cho cậu ấy."
Tôi đưa bản sao các văn bản liên quan cho ông, ông đã xác nhận.
"Ông đã từng nhận được phí y tế từ công ty Đại Lợi chưa?"
"Chưa. Họ thông báo cho chúng tôi biết rằng vì một số lý do, họ từ chối yêu cầu thanh toán khoản phí y tế này. Hóa đơn này đã bị hủy bỏ sau 6 tháng. Sau đó, bà Black mỗi tháng đều trả cho chúng tôi 50 đô la."
"Ông đã điều trị cho Donnie Ray như thế nào?"
"Sử dụng một liệu pháp cảm ứng. Sau khi cậu ấy nhập viện, chúng tôi đặt một ống thông vào một mạch máu lớn dưới xương đòn của cậu ấy. Thuốc dùng cho lần hóa trị đầu tiên tên là ara-C, chúng tôi truyền liên tục loại thuốc này vào cơ thể cậu ấy 24 giờ mỗi ngày trong 7 ngày. Trong 3 ngày đầu, còn truyền đồng thời loại thuốc thứ hai tên là 'Kẻ sát nhân đỏ', vì màu sắc của nó là màu đỏ và có tính sát thương cực lớn đối với các tế bào trong tủy xương. Do các tế bào máu chết hàng loạt thường sẽ gây ra bệnh gút, nên đã cho cậu ấy uống Allopurinol để phòng ngừa gút. Đã truyền dịch tĩnh mạch rất nhiều để đào thải các tác dụng phụ ra khỏi thận. Vì cậu ấy rất dễ bị nhiễm trùng, còn tiêm cho cậu ấy kháng sinh và thuốc kháng khuẩn. Để tiêu diệt nấm, cho cậu ấy dùng Amphotericin B. Loại thuốc này độc tính rất lớn, khiến cậu ấy sốt tới 104 độ F. Hơn nữa còn khiến cậu ấy run rẩy đến mức khó kiểm soát, nên loại thuốc này bị người ta gọi là 'vừa nướng vừa run'. Mặc dù vậy, cậu ấy vẫn tỏ ra vô cùng kiên cường, giữ thái độ tích cực để tiếp nhận điều trị. Đối với một thanh niên bệnh nặng, điều này thật đáng quý."
"Cơ sở lý luận của liệu pháp cảm ứng mạnh này là giết chết tất cả các tế bào trong tủy xương, từ đó hy vọng tạo ra một môi trường để các tế bào bình thường tái sinh với tốc độ nhanh hơn tế bào bạch cầu."
"Tình trạng này có xảy ra không?"
"Có, nhưng thời gian rất ngắn. Tuy nhiên, khi chúng tôi điều trị cho bất kỳ bệnh nhân nào, trong lòng đều biết rất rõ: Bệnh bạch cầu sẽ tái phát, trừ khi bệnh nhân được cấy ghép tủy xương."
"Bác sĩ Cord, ông có thể giải thích cho bồi thẩm đoàn về cách ông thực hiện phẫu thuật cấy ghép tủy xương không?"
"Tất nhiên. Phẫu thuật này không quá phức tạp. Sau khi bệnh nhân trải qua đợt hóa trị mà tôi vừa mô tả, nếu anh ta hoặc cô ta đủ may mắn tìm được một người hiến tặng tủy xương có gen di truyền tương đồng, chúng tôi sẽ rút tủy xương từ người hiến tặng rồi truyền vào cơ thể bệnh nhân qua đường tĩnh mạch. Mục đích của việc làm này là chuyển một lượng lớn tế bào tủy xương từ cơ thể người này sang cơ thể người khác."
"Đối với Donnie Ray, Long Black có phải là người hiến tặng phù hợp không?"
"Hoàn toàn phù hợp. Họ là anh em song sinh cùng trứng, thực hiện phẫu thuật này là dễ dàng nhất. Chúng tôi đã làm xét nghiệm cho cả hai người họ, nếu cấy ghép tủy xương, vốn dĩ sẽ rất dễ dàng và hiệu quả."
Drummond bật dậy. "Phản đối! Đây hoàn toàn là suy đoán. Phẫu thuật cấy ghép có hiệu quả hay không, vị bác sĩ này không thể làm chứng về điều đó."
"Bác bỏ phản đối. Đợi đến lúc đối chất hãy phản đối."
Tôi hỏi thêm vài câu về loại phẫu thuật này; khi Cord trả lời, tôi quan sát phản ứng của bồi thẩm đoàn. Họ vẫn nghe rất chăm chú, nhưng nên dừng lại ở đây thôi.
"Ông có thể nhớ lại xem, ông dự định thực hiện phẫu thuật này cho cậu ấy vào khoảng thời gian nào không?"
Ông nhìn ghi chép, mặc dù ông biết câu trả lời. "Tháng 8 năm 1991, khoảng 18 tháng trước."
"Phẫu thuật cấy ghép như vậy có làm tăng khả năng sống sót của bệnh nhân bạch cầu cấp tính không?"
"Tất nhiên."
"Tăng lên bao nhiêu?"
"80-90%."
"Nếu không làm phẫu thuật, khả năng sống sót là bao nhiêu?"
"Bằng không."
"Tôi cảm ơn nhân chứng."
Đã quá 12 giờ trưa, là giờ ăn trưa. Kepler tuyên bố nghỉ phiên, 1 giờ rưỡi tiếp tục xét xử. Deck xung phong đi cửa hàng thực phẩm mua bánh sandwich, tôi và Cord ở lại chuẩn bị cho vòng tiếp theo. Ông đang tận hưởng cảm giác đối đầu trực diện với Drummond.
Khi Drummond chuẩn bị cho cuộc tranh luận của vụ án này, tôi không bao giờ biết ông ta đã thuê bao nhiêu cố vấn y tế, ông ta cũng không có nghĩa vụ phải tiết lộ cho tôi. Ông ta chỉ đưa ra một chuyên gia chuẩn bị ra tòa làm chứng. Bác sĩ Cord liên tục trấn an tôi, nói rằng phẫu thuật cấy ghép tủy xương, với tư cách là một phương pháp điều trị ưu tiên, hiện đã được công nhận rộng rãi, chỉ có bác sĩ rởm mới đưa ra quan điểm ngược lại. Ông đã đưa cho tôi rất nhiều bài báo và luận văn chuyên môn, thậm chí còn đưa cho tôi rất nhiều sách để ủng hộ lập trường của chúng tôi: Đây tuyệt đối là biện pháp tốt nhất để điều trị bệnh bạch cầu cấp tính.
Rõ ràng, kết luận mà Drummond tìm ra hoàn toàn nhất quán với điều này. Ông ta không phải bác sĩ, quan điểm ông ta khăng khăng lại thiếu căn cứ, vì vậy họ không có tranh cãi gay gắt với Cord, giữa họ chỉ có những cuộc đụng độ ngắn ngủi. Luận điểm chính của ông ta là: So với bệnh nhân bạch cầu cấp tính không được cấy ghép tủy xương, số lượng bệnh nhân đã thực hiện phẫu thuật này là rất ít. Dưới 5%, Cord nói, nhưng đó chỉ là vì rất khó tìm được người hiến tặng phù hợp mà thôi. Trên quy mô toàn quốc, mỗi năm có khoảng 7000 ca cấy ghép.
Những bệnh nhân may mắn tìm được người hiến tặng có cơ hội sống sót cao hơn rất nhiều. Donnie Ray chính là một người may mắn như vậy. Cậu ấy có một người hiến tặng tủy xương.
Drummond vội vã hỏi vài câu rồi nhanh chóng giương cờ trắng. Lúc này, trên mặt Cord gần như lộ ra vẻ thất vọng. Tôi không thực hiện câu hỏi trực tiếp nào nữa, vì vậy Cord rời khỏi ghế nhân chứng.
Tiếp theo là một khoảnh khắc vô cùng căng thẳng, tôi sẽ công bố vị quản lý cấp cao nào của công ty Đại Lợi sẽ ra tòa làm chứng. Sáng nay Drummond đã hỏi tôi từ sớm, tôi trả lời rằng tôi vẫn chưa quyết định. Ông ta kiện lên Kepler, nhưng bị Kepler gạt đi, nói rằng trước khi tôi chuẩn bị xong thì không cần thiết phải tiết lộ. Nhóm người đó lúc này đang tự nhốt mình trong phòng nhân chứng ở cuối hành lang, vừa chờ đợi vừa phàn nàn.
"Ông Everett Lufkin," tôi tuyên bố. Vừa khi cảnh sát ra ngoài triệu tập người này, ở bàn luật sư bị cáo lập tức xuất hiện một sự hỗn loạn. Nhưng tôi có thể thấy, sự hỗn loạn này phần lớn là vô nghĩa. Chỉ là đẩy tài liệu qua lại, truyền ghi chép cho nhau, lật hồ sơ qua lại. Chỉ vậy thôi.
Lufkin bước vào tòa, mất hồn mất vía nhìn đông nhìn tây, như thể vừa bị người ta đánh thức khỏi giấc ngủ đông. Ông chỉnh lại cà vạt, đi theo cảnh sát dọc theo lối đi về phía ghế nhân chứng, lo lắng bất an nhìn nhóm người ủng hộ mình ở bên trái lối đi.
Phương pháp đào tạo nhân chứng của Drummond nổi tiếng gần xa. Ông ta để họ nhiều lần tiếp nhận sự thẩm vấn tàn bạo, đôi khi thậm chí để bốn năm luật sư dưới quyền oanh tạc nhân chứng, và quay toàn bộ quá trình thành băng video. Sau đó cùng nhân chứng dành vài tiếng đồng hồ xem video, nghiên cứu chiến thuật, chuẩn bị đầy đủ cho khoảnh khắc ra tòa.
Tôi biết sự chuẩn bị của các cộng sự này sẽ không thể chê vào đâu được.
Lufkin nhìn tôi, nhìn bồi thẩm đoàn, cố gắng tỏ ra bình tĩnh, nhưng ông biết rõ, ông không thể trả lời tất cả các câu hỏi sắp đặt ra cho mình. Ông khoảng 55 tuổi, tóc hoa râm phủ trên trán. Ngũ quan đoan chính, giọng nói trầm tĩnh. Bạn hoàn toàn có thể giao phó đội hướng đạo sinh địa phương cho ông ta. Nhưng Jackie Lemanczyk từng nói với tôi rằng, trong số những người muốn quan hệ với cô ấy cũng có ông ta.
Ngày mai cô ấy sẽ ra tòa làm chứng ở đây, họ còn chưa hề hay biết.
Chúng tôi nói về bộ phận bồi thường, nói về vai trò của nó trong hệ thống vận hành của công ty Đại Lợi. Ông đã làm việc ở bộ phận bồi thường 8 năm, 6 năm gần đây giữ chức phó chủ tịch, nắm chặt bộ phận này trong tay, là một người sếp việc lớn việc nhỏ đều nắm trong lòng bàn tay. Ông muốn bồi thẩm đoàn hiểu rõ sức nặng của mình, vì vậy chưa đầy vài phút, chúng tôi đã xác định được một sự thật quan trọng: Trách nhiệm của ông là chịu trách nhiệm toàn diện về bộ phận bồi thường. Ông không xử lý cụ thể từng yêu cầu bồi thường, nhưng ông chịu trách nhiệm về vận hành hàng ngày của toàn bộ bộ phận. Tôi tán gẫu với ông một lát về hệ thống hành chính của công ty, rồi đột nhiên bất ngờ phát động tấn công: "Jackie Lemanczyk là ai?"
Vai ông run lên bần bật. "Một nhân viên bồi thường tiền nhiệm."
"Cô ấy có làm việc ở bộ phận của ông không?"
"Có."
"Khi nào cô ấy không còn làm việc ở công ty Đại Lợi nữa?"
Ông nhún vai. Quên ngày tháng rồi.
"Có phải là ngày 3 tháng 10 năm ngoái không?"
"Gần như vậy."
"Đó có phải là hai ngày trước khi cô ấy dự định lấy lời khai cho vụ án này không?"
"Tôi thực sự không nhớ rõ."
Tôi đưa cho ông hai văn bản để giúp ông hồi phục trí nhớ.
Một là đơn từ chức của cô ấy, ngày 3 tháng 10. Một bản khác là thông báo lấy lời khai của cô ấy vào ngày 5 tháng 10. Sau khi xem xong, ông cuối cùng cũng nhớ ra, đành phải ấp úng thừa nhận rằng cô ấy quả thực đã rời khỏi công ty Đại Lợi hai ngày trước ngày lấy lời khai.
"Và cô ấy là người chịu trách nhiệm về yêu cầu bồi thường này của quý công ty phải không?"
"Đúng."
"Và ông đã sa thải cô ấy?"
"Tất nhiên là không."
"Vậy ông đã đuổi cô ấy đi bằng cách nào?"
"Là cô ấy tự từ chức. Trên lá thư này chẳng phải đã nói rõ ràng rồi sao."
"Tại sao cô ấy lại từ chức?"
Ông tự cho mình là thông minh, cầm lá thư đó lên, đọc to với bồi thẩm đoàn: "Vì một số lý do cá nhân, tôi xin từ chức."
"Vậy rời khỏi công ty Đại Lợi là ý của cô ấy?"
"Trên thư viết chính xác là như vậy."
"Cô ấy đã làm việc dưới quyền ông bao lâu?"
"Dưới quyền tôi có bao nhiêu người, những việc nhỏ nhặt như vậy sao tôi nhớ nổi!"
"Ông không nhớ sao?"
"Tôi không nhớ chính xác. Vài năm gì đó."
"Ông có hiểu rõ về cô ấy không?"
"Không hiểu rõ lắm. Cô ấy chỉ là một nhân viên bồi thường, những nhân viên như cô ấy nhiều lắm."
Ngày mai, cô ấy sẽ ra làm chứng ở đây; mối quan hệ bẩn thỉu giữa họ đã kéo dài suốt 3 năm.
"Ông đã kết hôn rồi phải không, ông Lufkin?"
"Đúng. Và hôn nhân rất hạnh phúc."
"Có con cái chưa?"
"Có. Hai đứa con, đều đã trưởng thành."
Tôi để ông ngồi trên ghế nhân chứng một phút, tự mình quay về chỗ lấy một xấp tài liệu. Đây là toàn bộ hồ sơ bồi thường của Black, tôi giao nó cho Lufkin. Ông lật xem chậm rãi. Nói rằng trông có vẻ đầy đủ. Tôi ép ông phải cam kết rõ ràng rằng đây là toàn bộ hồ sơ, không thiếu một bản nào.
Để bồi thẩm đoàn có hiểu biết cơ bản về quy trình xử lý yêu cầu bồi thường, tôi hỏi ông hàng loạt câu hỏi tẻ nhạt, ông cũng đưa ra những câu trả lời tẻ nhạt không kém. Tất nhiên chúng tôi đều lấy giả định rằng công ty Đại Lợi mọi việc đều làm theo quy trình làm tiền đề cho câu hỏi và câu trả lời.
Tiếp theo là đụng chạm đến những lá thư đê hèn kia. Tôi yêu cầu ông đọc to từng lá thư trong 7 lá thư từ chối bồi thường trước micro. Mỗi lá thư tôi đều yêu cầu ông giải thích rõ: Ai viết? Tại sao viết? Điều này có phù hợp với quy định liên quan trong sổ tay làm việc của bộ phận bồi thường không? Phù hợp với điều khoản nào trong sổ tay công việc? Ông đã đích thân xem qua lá thư này chưa?
Các bồi thẩm viên dường như rất sốt ruột muốn nghe ông đọc lá thư "ngu xuẩn hết chỗ nói" kia, ông tất nhiên đã sớm chuẩn bị. Ông đọc một lượt, rồi giải thích bằng giọng điệu khô khốc không chút cảm xúc rằng người viết lá thư này sau đó đã rời khỏi công ty. Người này sai, công ty sai, bây giờ, ngay lúc này, tại phiên tòa công khai này, công ty chúng tôi xin lỗi vì lá thư này.
Tôi để ông — lảm nhảm nói tiếp. Tôi đưa cho ông một sợi dây thừng dài, để ông tự treo cổ mình.
"Ông không thấy bây giờ xin lỗi đã quá muộn rồi sao?" Tôi cuối cùng cũng ngắt lời ông.
"Có lẽ."
"Người thanh niên đó đã chết rồi, phải không?"
"Phải."
"Bây giờ tôi muốn nghiêm trọng yêu cầu ông trả lời, ông Lufkin, công ty Đại Lợi cho đến nay vẫn chưa đưa ra bất kỳ lời xin lỗi bằng văn bản nào về lá thư này, đúng không?"
"Theo tôi được biết, không có."
"Cho đến nay, chưa từng đưa ra bất kỳ hình thức xin lỗi nào, đúng không?"
"Đúng."
"Dựa trên sự hiểu biết hạn hẹp của ông, công ty Đại Lợi có phải chưa bao giờ xin lỗi về bất cứ điều gì không?"
"Phản đối." Drummond hét lên.
"Phản đối có hiệu lực. Tiếp tục đi, ông Baylor."
Lufkin đã ngồi trên ghế nhân chứng gần hai giờ. Bồi thẩm đoàn có lẽ đã thấy chán ngán ông ta. Còn tôi thì chắc chắn là như vậy. Đã đến lúc tung đòn chí mạng cho ông ta rồi.
Tôi cố ý thổi phồng sổ tay làm việc của bộ phận bồi thường, nói nó là sự thể hiện bằng văn bản không thể vi phạm về phương châm chính sách của công ty. Tôi đưa cuốn sổ tay lấy được khi thu thập chứng cứ cho Lufkin, rồi đưa ra hàng loạt câu hỏi, ông dùng những câu trả lời hoàn hảo để chứng minh: Đúng, đây là thánh chỉ cho công việc của bộ phận bồi thường. Đã trải qua thử thách của thời gian, đúng đắn và anh minh. Đồng thời, theo thời gian, còn thường xuyên nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, làm cho nó đồng bộ với sự phát triển của thời đại. Tất cả những điều này đều chỉ vì một mục đích: Cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
Khi những lời giải thích dài dòng của ông về cuốn sổ tay đáng chết này đến mức gần như khiến người ta chán ghét, tôi đột nhiên hỏi: "Ông Lufkin, cuốn sổ tay này có đầy đủ không?"
Ông lật nhanh, như thể ông thuộc lòng từng điều từng chữ. "Có."
"Ông chắc chắn chứ?"
"Có."
"Trong giai đoạn thu thập chứng cứ, tôi từng yêu cầu các ông đưa cho tôi một cuốn sổ tay, đúng không?"
"Đúng."
"Tôi yêu cầu luật sư phía ông đưa cho tôi một cuốn, và cuốn trên tay ông chính là cuốn họ đưa cho tôi, phải không?"
"Cuốn sổ tay đưa cho tôi này, có phải do đích thân ông chọn không?"
"Là đích thân tôi chọn."
Tôi hít một hơi thật sâu, bước vài bước quay lại bàn của mình. Dưới bàn, có một thùng carton đầy tài liệu. Tôi cúi người thò tay vào mò mẫm một lúc, rồi đột nhiên đứng thẳng dậy, đưa đôi tay không ra phía ông: "Ông vui lòng cầm cuốn sổ tay lên, lật đến mục U được không?" Chữ cuối cùng vừa dứt, tôi lập tức xoay người nhìn thẳng vào cố vấn pháp lý chuyên trách của công ty ngồi sau Drummond là Jack Underhall. Ông nhắm nghiền mắt, đầu cúi xuống, sau đó lại gục xuống khuỷu tay, đờ đẫn nhìn chằm chằm vào sàn nhà. Kermit Aldi ngồi bên cạnh ông, lo lắng đến mức thở hổn hển.
Drummond không phản ứng gì.
"Ông nói gì?" Lufkin hỏi, giọng ông cao lên 8 tông. Dưới ánh mắt thầm lặng của mọi người, tôi lấy ra cuốn sổ tay làm việc của bộ phận bồi thường mà Cooper Jackson đưa cho tôi, đặt lên bàn. Ánh mắt mọi người đều đổ dồn về nó. Tôi nhìn Kepler, ông rõ ràng rất hứng thú với cảnh tượng này.
"Mục U, ông Lufkin. Xin ông lật đến mục này. Tôi rất sẵn lòng thảo luận với ông về mục này."
Ông bất lực cầm cuốn sổ tay lên, lật lại một lần nữa. Vào thời khắc mấu chốt này, nếu có thể xảy ra một phép màu, mục U đó xuất hiện hoàn chỉnh, đẹp đẽ trên cuốn sổ tay của ông, tôi nghĩ, dù có bắt ông bán vợ đợ con, ông cũng sẽ cam tâm tình nguyện.
Nhưng phép màu không xảy ra.
"Tôi ở đây không có mục U." Ông chán nản, gần như ấp úng nói.
"Xin lỗi," tôi nói lớn. "Tôi không nghe thấy lời ông."
"Ừm, ừ, trong cuốn sổ tay này không có mục U." Ông hoàn toàn bị dọa sợ, điều này không phải vì mục này đã biến mất, mà vì ông đã bị tôi bắt thóp. Ông hốt hoảng, lúc nhìn Drummond, lúc lại nhìn Underhall, như thể đang cầu xin họ giúp đỡ, ví dụ như hét lên một tiếng "hết giờ"!
Leo F. Drummond hoàn toàn không biết thân chủ của mình đã giấu giếm hắn những thủ đoạn bẩn thỉu gì. Họ đã thay đổi sổ tay công việc nhưng lại không hề tiết lộ sự thật cho luật sư của chính mình. Hắn đang thì thầm với Moorehouse: "Rốt cuộc chuyện quái quỷ gì đang xảy ra thế này?"
Tôi cầm cuốn sổ tay có phần U trên tay, làm bộ làm tịch đi về phía nhân chứng. Cuốn sổ này có vẻ ngoài giống hệt cuốn mà hắn đang cầm. Trên bìa in ngày tháng của bản sửa đổi này: ngày 1 tháng 1 năm 1991. Điểm khác biệt duy nhất giữa hai cuốn sổ là một cuốn có phần U ở cuối, còn cuốn kia thì không.
"Ông có biết thứ này không, ông Lufkin?" Tôi vừa hỏi vừa đưa cuốn sổ của Jackson cho hắn, đồng thời cầm lại cuốn của mình.
"Biết."
"Vậy nó là cái gì?"
"Là một cuốn sổ tay bồi thường."
"Cuốn này có phần U bên trong không?"
Hắn lật qua lật lại rồi gật đầu.
"Ông gật đầu có ý gì vậy, ông Lufkin? Thư ký tòa án không thể ghi chép lại hành động gật đầu của ông được đâu."
"Cuốn này có một phần U."
"Cảm ơn ông. Vậy bây giờ xin hãy cho tôi biết, là chính ông đã tự tay loại bỏ phần U này khỏi cuốn sổ đưa cho tôi, hay là ông chỉ thị cho người khác làm việc đó?"
Hắn nhẹ nhàng đặt cuốn sổ lên lan can bục nhân chứng, bình thản khoanh hai tay trước ngực. Hắn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà giữa tôi và hắn, im lặng chờ đợi. Tôi nghĩ chắc hẳn hắn đang tranh thủ lúc rảnh rỗi để chợp mắt một chút. Vài giây trôi qua, mọi người đều đang đợi hắn trả lời.
"Trả lời câu hỏi đó đi." Kepler gầm lên từ phía bục thẩm phán.
"Tôi không biết là ai đã làm."
"Nhưng việc này rõ ràng đã xảy ra, phải không?"
"Điều đó là hiển nhiên rồi."
"Vậy nghĩa là ông thừa nhận Công ty Great Benefit đã giấu giếm tài liệu."
"Tôi không thừa nhận bất cứ điều gì cả. Tôi tin rằng đây chỉ là một sự sơ suất."
"Sơ suất? Xin hãy nghiêm túc chút đi, ông Lufkin. Chẳng lẽ không phải là sự thật khi một ai đó ở Công ty Great Benefit đã cố tình loại bỏ phần U khỏi cuốn sổ đưa cho tôi sao?"
"Tôi không biết. Tôi, ừm, ờ, chuyện cứ thế xảy ra thôi, tôi nghĩ vậy. Ông biết đấy."
Tôi lại đi về phía bàn luật sư nguyên đơn. Thực ra, làm vậy cũng chẳng có mục đích gì đặc biệt, chỉ là muốn để hắn đứng đó một lúc, khiến cho sự ghê tởm của bồi thẩm đoàn đối với hắn tăng đến mức tột cùng. Ánh mắt hắn đờ đẫn nhìn xuống sàn nhà, sau khi bị tấn công bất ngờ và đánh bại, hắn chỉ ước có một cái lỗ để chui xuống.
Tôi tự tin bước đến bàn luật sư bị đơn, đưa một bản sao của phần U cho Drummond. Tôi nhe răng cười nhạo hắn, làm tương tự với Moorehouse, rồi lại trình bản sao phần U lên trước mặt Kepler. Tôi không vội vã, để bồi thẩm đoàn có thể nhìn thấy rõ ràng và chờ đợi trong tâm thế mong đợi.
"Được rồi, ông Lufkin, chúng ta hãy nói về phần U bí ẩn này. Hãy giải thích một chút cho bồi thẩm đoàn đi. Ông xem phần này được không?"
Hắn cầm cuốn sổ lên, lật đến phần U.
"Nó bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1991, đúng không?"
"Đúng."
"Do ông soạn thảo à?"
"Không." Tất nhiên là không rồi.
"Được. Vậy ai là người soạn thảo?"
Lại một khoảng lặng đáng ngờ. Hắn đang tìm kiếm một lời nói dối thích hợp.
"Tôi không biết." Hắn nói.
"Ông không biết? Nhưng vừa nãy chẳng phải ông đã làm chứng rằng điều này hoàn toàn nằm trong phạm vi trách nhiệm của ông tại Công ty Great Benefit sao?"
Hắn lại cúi đầu, mắt nhìn xuống sàn, trong lòng chỉ mong tôi biến đi cho nhanh.
"Được rồi," tôi nói. "Chúng ta bỏ qua đoạn một và hai, đọc từ đoạn thứ ba."
Đoạn thứ ba chỉ thị cho nhân viên bồi thường, trong vòng 3 ngày kể từ khi nhận được mỗi đơn yêu cầu bồi thường phải lập tức từ chối. Mọi đơn yêu cầu bồi thường đều phải từ chối, không có ngoại lệ. Đoạn thứ tư cho phép tiếp tục nghiên cứu một số đơn sau khi từ chối, và quy định các văn bản cần thiết để có thể bồi thường cho những đơn có số tiền yêu cầu rất hạn chế và lý do rất đầy đủ. Đoạn thứ năm chỉ thị nhân viên bồi thường chuyển tất cả các đơn yêu cầu bồi thường có số tiền bồi thường có thể vượt quá 5.000 đô la cho bộ phận bảo hiểm, đồng thời đính kèm một lá thư từ chối gửi cho người được bảo hiểm, tất nhiên là để bộ phận bảo hiểm nghiên cứu thêm.
Cứ như thế. Tôi để Lufkin đọc nguyên văn, sau đó dồn ép hắn bằng những câu hỏi mà hắn không thể trả lời. Tôi lặp đi lặp lại từ "mưu mẹo", và sau khi Drummond phản đối nhưng bị Kepler bác bỏ, tôi còn dùng từ đó nhiều hơn nữa. Đoạn thứ mười một là một tập hợp các ký hiệu mật mã thực thụ, dùng để nhân viên bồi thường ghi chú trong hồ sơ về phản ứng gay gắt của người được bảo hiểm. Đây rõ ràng là để giở trò. Nếu người được bảo hiểm đe dọa tìm luật sư kiện cáo, hồ sơ yêu cầu bồi thường của họ lập tức được chuyển cho cấp trên xem xét nghiên cứu. Nếu người được bảo hiểm là kiểu người cam chịu, thì quyết định từ chối bồi thường sẽ không bao giờ thay đổi.
Khoản B đoạn thứ mười tám yêu cầu nhân viên bồi thường lập một tấm séc theo số tiền yêu cầu bồi thường rồi cùng với hồ sơ chuyển cho bộ phận bảo hiểm, đồng thời chỉ thị bộ phận bảo hiểm không được gửi séc đi cho đến khi có thông báo tiếp theo. Nhưng thông báo tiếp theo đó, tất nhiên sẽ không bao giờ có. "Vậy tấm séc này xử lý thế nào?" tôi hỏi Lufkin. Hắn không biết.
Một nửa kia của mưu mẹo từ Công ty Great Benefit nằm ở phần U trong sổ tay công việc của bộ phận bảo hiểm, nên ngày mai tôi sẽ truy cứu chuyện này với một phó chủ tịch khác.
Thực ra việc này cũng chẳng cần thiết. Ngay cả khi tôi kết thúc tại đây, bồi thẩm đoàn cũng sẽ đồng ý với bất kỳ yêu cầu nào của tôi, mà họ còn chưa được gặp Donnie Ray đấy.
4 giờ 30 phút, thẩm phán ra lệnh tạm nghỉ phiên tòa để mọi người nghỉ ngơi một chút. Tôi đã để Lufkin ngồi trên bục nhân chứng suốt hai tiếng rưỡi, nên cần kết thúc phần thẩm vấn hắn càng sớm càng tốt. Trên đường đến nhà vệ sinh, tôi gặp Drummond ở hành lang, hắn đang tức giận chỉ vào một căn phòng, bảo Lufkin và Underhall vào trong đó. Tôi thực sự rất muốn nghe xem họ cãi nhau những gì.
20 phút sau, Lufkin quay lại bục nhân chứng. Về vấn đề sổ tay công việc, hiện tại tôi đã hỏi xong. Nếu bồi thẩm đoàn có ý định, họ có thể tự đọc những dòng chữ nhỏ chi chít đó.
"Còn vài câu hỏi nhỏ nữa," tôi tràn đầy năng lượng, mỉm cười nói. "Trong năm 1991, Công ty Great Benefit đã bán và có hiệu lực bao nhiêu hợp đồng bảo hiểm y tế?"
Tên khốn đó lại một lần nữa dùng ánh mắt tuyệt vọng cầu cứu luật sư. Mà số liệu này đáng lẽ phải được giao cho tôi từ 3 tuần trước rồi.
"Tôi không rõ." Hắn nói.
"Trong năm 1991, có bao nhiêu người được bảo hiểm nộp đơn yêu cầu bồi thường?"
"Tôi không rõ."
"Ông là phó chủ tịch phụ trách bộ phận bồi thường, mà ông lại không rõ sao?"
"Công ty Great Benefit là một công ty lớn mà."
"Trong năm 1991, con số từ chối bồi thường là bao nhiêu?"
"Tôi không biết."
Đúng lúc này, không sớm không muộn, chính xác là lúc này, thẩm phán Kepler lên tiếng: "Nhân chứng hôm nay có thể xuống. Chúng ta nghỉ phiên tòa vài phút, các vị bồi thẩm viên có thể về nhà rồi."
Ông ấy nói lời tạm biệt với các bồi thẩm viên, một lần nữa bày tỏ lòng cảm ơn và dặn dò vài câu. Khi các bồi thẩm viên đi ngang qua bàn tôi, có vài người mỉm cười gật đầu với tôi. Sau khi vị bồi thẩm viên cuối cùng bước qua cánh cửa đôi đó, Kepler lên tiếng: "Ghi vào biên bản. Ông Drummond, ông và thân chủ của ông đều đang coi thường tòa án. Ngay từ vài tuần trước, tôi đã yêu cầu các ông phải giao những con số đó cho nguyên đơn. Nhưng các ông đến tận bây giờ vẫn chưa thực hiện. Những con số này có mối liên hệ mật thiết với vụ án, ý nghĩa vô cùng quan trọng, vậy mà các ông lại từ chối cung cấp. Ông và thân chủ của ông có phải đợi đến khi bị tống giam tất cả mới chịu giao ra những con số đó không?"
Leo đứng dậy. Hắn trông vô cùng mệt mỏi, già đi trông thấy. "Thưa thẩm phán, tôi đã luôn tìm mọi cách để có được những con số này. Tôi đã cố gắng hết sức rồi." Tội nghiệp Leo, hắn vẫn còn đang hoang mang về chuyện phần U, những gì hắn nói lúc này hoàn toàn đáng tin. Thân chủ của hắn vừa chứng minh cho thế giới thấy rằng, họ thực sự sẽ giấu giếm tài liệu với chính hắn.
"Ông Kelly còn ở đó không?" Thẩm phán hỏi.
"Ở trong phòng nhân chứng." Drummond đáp.
"Đi gọi ông ta đến đây." Chẳng bao lâu sau, cảnh sát tư pháp đã dẫn vị chủ tịch này vào tòa.
Dot đã chịu đựng đủ rồi. Cô ấy muốn đi vệ sinh, đồng thời hút một điếu thuốc.
Kepler chỉ vào bục nhân chứng, đích thân để Kelly tuyên thệ, sau đó bắt đầu đặt câu hỏi, xem công ty của ông ta có lý do chính đáng nào để từ chối cung cấp thông tin mà tôi yêu cầu hay không.
Kelly ấp a ấp úng, lắp ba lắp bắp, cố gắng đẩy trách nhiệm cho các văn phòng và chi nhánh ở khắp nơi.
"Khái niệm coi thường tòa án ông hiểu hay không hiểu?" Kepler hỏi.
"Có lẽ, ừm, không hiểu lắm."
"Rất đơn giản. Công ty của ông đang coi thường tòa án, ông Kelly. Tôi có thể phạt tiền công ty ông, cũng có thể tống vị chủ tịch là ông vào tù. Ông muốn nộp phạt hay ngồi tù?"
Tôi chắc chắn rằng vài gã đồng bọn của hắn từng có thời gian lăn lộn trong nhà tù liên bang ở vùng quê, nhưng điều Kepler nói là nhà tù thành phố, nơi giam giữ không ít kẻ lưu manh đầu đường xó chợ. Kelly tất nhiên hiểu rõ điều này. "Tôi tất nhiên không muốn vào tù, thưa ngài."
"Tôi cũng biết là ông không muốn. Vì vậy tôi ra lệnh phạt Công ty Great Benefit 10.000 đô la, bắt buộc phải giao cho nguyên đơn trước 5 giờ chiều ngày mai. Gọi điện cho trụ sở chính của ông, bảo họ gửi séc qua đường chuyển phát nhanh, thế nào?"
Kelly chỉ đành gật đầu.
"Nghe đây, nếu trước 9 giờ sáng mai, không dùng máy fax truyền những con số đó qua, ông sẽ bị tống vào nhà tù thành phố Memphis, ở đó cho đến khi lệnh này được thực thi. Hơn nữa, trong thời gian ông ở tù, công ty của ông mỗi ngày phải nộp phạt 5.000 đô la."
Kepler lại quay sang chỉ vào Drummond nói: "Vấn đề tài liệu này, tôi đã cảnh báo các ông rất nhiều lần rồi, ông Drummond. Hành vi này của các ông là không thể dung thứ."
Ông ấy đập mạnh búa gỗ, quay người bước ra khỏi tòa án.