Một tiếng đồng hồ sau, những cuộc chiến đấu rời rạc diễn ra trên bàn cờ tướng Trung Quốc và bàn đánh bài đôi dần dần lắng xuống; những ông lão bà lão cuối cùng cũng rời khỏi tòa nhà. Người gác cổng đứng đợi ở cửa. Smut gọi chúng tôi lại để tổng kết. Chúng tôi lần lượt tóm tắt những vấn đề của các thân chủ mình. Ai nấy đều đã mệt nhoài, chỉ muốn nhanh chóng rời khỏi nơi này.
Smut đưa ra vài lời khuyên, chẳng có chút sáng tạo hay mới mẻ nào. Ông ta hứa sẽ thảo luận những vấn đề pháp lý thực tế của các cụ già trong buổi học tuần tới, rồi đuổi chúng tôi đi. Tôi co chân chạy biến.
Tôi đi nhờ xe của Buck. Đó là một chiếc Pontiac đời cũ, thân xe quá khổ, chẳng thời trang hay đẹp đẽ gì, nhưng vẫn tốt hơn chiếc Toyota sắp rã đám của tôi nhiều. Buck có hai đứa con, vợ lại chỉ đi dạy thêm ở trường, nên mức sống chỉ vừa vặn cao hơn mức nghèo khổ một chút. Anh ấy học hành chăm chỉ, thành tích xuất sắc, nhờ vậy mà lọt vào mắt xanh của một văn phòng luật sư da màu đang ăn nên làm ra trong thành phố. Văn phòng này rất có tiếng tăm, nổi danh gần xa với những hồ sơ kiện tụng xuất sắc về quyền dân sự. Mức lương khởi điểm của anh là 40.000 đô la mỗi năm, cao hơn 6.000 đô la so với mức mà văn phòng luật sư Brodnax và Spear trả cho tôi.
"Tôi ghét trường luật," tôi nói khi xe rời khỏi bãi đỗ xe của tòa nhà người cao tuổi Cypress Gardens.
"Chuyện thường thôi," Buck đáp. Anh ấy chẳng ghét bất cứ ai hay bất cứ điều gì, đôi khi còn khẳng định việc học luật là một thử thách đối với mình.
"Tại sao chúng ta lại làm luật sư nhỉ?"
"Vì phục vụ công chúng, đấu tranh với bất công, cải tạo xã hội, cậu biết đấy, vân vân và mây mây. Chẳng lẽ cậu chưa từng nghe giáo sư Smut giảng bài sao?"
"Đi uống bia đi."
"Chưa đầy 3 giờ chiều mà, Rudy." Buck hiếm khi uống rượu, còn tôi thì ít hơn cả anh ấy. Uống rượu tốn kém quá, mà giờ tôi phải thắt lưng buộc bụng để mua thực phẩm.
"Chỉ là đùa chút thôi mà," tôi nói. Anh ấy lái xe về phía trường luật. Hôm nay là thứ Năm, nghĩa là ngày mai tôi sẽ phải vác trên vai gánh nặng của hai môn Luật Thể thao và Bộ luật Napoleon, chúng cũng vô giá trị như luật dành cho các cụ già vậy, hơn nữa còn chẳng cần tôi tốn chút sức lực nào. Thế nhưng kỳ thi tư cách luật sư cứ lởn vởn trong đầu tôi, mỗi khi nghĩ đến nó, đôi tay tôi lại không tự chủ được mà run lên nhè nhẹ. Nếu tôi thi trượt, những con người cứng nhắc, không một nụ cười ở văn phòng luật sư Brodnax và Spear chắc chắn sẽ đá tôi ra khỏi cửa, điều đó đồng nghĩa với việc sau một tháng đi làm, tôi sẽ lại phải ra đường ăn xin. Hậu quả của việc thi trượt tư cách luật sư là không thể tưởng tượng nổi, nó sẽ khiến tôi thất nghiệp, phá sản, mất sạch thể diện và chết đói. Chính vì thế, tôi mới luôn canh cánh trong lòng. "Cho tôi xuống thẳng thư viện," tôi nói. "Tôi nghĩ mình cần dành chút thời gian cho mấy vụ án này trước khi ôn thi."
"Ý hay đấy."
"Tôi thật sự ghét thư viện."
"Ai mà chẳng ghét thư viện, Rudy. Lập ra thư viện chính là để người ta ghét mà. Mục đích chính của nó là khiến sinh viên luật cảm thấy chán ghét. Cậu vẫn bình thường thôi."
"Cảm ơn."
"Bà cụ tìm cậu đầu tiên, bà Birdie, rất giàu có phải không?"
"Sao cậu biết?"
"Hình như tớ nghe lõm được chút ít trong cuộc nói chuyện của hai người."
"Đúng. Túi bà ấy rất dày. Bà ấy muốn lập lại di chúc. Con cháu bà ấy chẳng thèm ngó ngàng gì, nên tất nhiên bà ấy muốn gạch tên chúng đi."
"Bao nhiêu?"
"Khoảng 20 triệu."
Buck liếc nhìn tôi với ánh mắt đầy nghi hoặc.
"Đích thân bà ấy nói đấy," tôi bổ sung.
"Vậy ai sẽ nhận số tiền này?"
"Một mục sư gợi cảm chuyên thuyết giáo trên tivi, ông ta còn có cả máy bay phản lực Learjet riêng nữa cơ."
"Không thể nào."
"Tớ thề đấy."
Buck nhai lại chuyện này, lặng lẽ lái xe qua hai dãy phố trên con đường đông đúc. "Này Rudy, tớ không muốn làm cậu giận. Cậu là một gã tuyệt vời, cũng là một sinh viên giỏi. Rất thông minh. Nhưng soạn thảo di chúc cho một khối tài sản lớn như vậy, cậu có thấy nhẹ nhõm không?"
"Không. Cậu có thấy không?"
"Tất nhiên là không. Vậy cậu định làm thế nào?"
"Có lẽ bà ấy sẽ ngủ một giấc rồi không bao giờ tỉnh lại nữa."
"Không thể nào. Bà ấy tràn đầy năng lượng như vậy, chắc chắn sẽ sống thọ hơn chúng ta."
"Tớ sẽ ném nó cho Smut. Hoặc tìm một giáo sư dạy thuế giúp đỡ. Hoặc cứ nói thẳng với bà Birdie là tớ không giúp được, bảo bà ấy bỏ ra 5.000 đô la thuê một luật sư thuế cao cấp mà soạn. Tớ không quan tâm. Thật đấy. Tớ còn đầy vấn đề phải lo đây."
"Cục Thuế à?"
"Đúng. Họ đang ép tớ trả nợ. Cả chủ nhà nữa."
"Giá như tớ có thể giúp được gì đó," Buck nói. Tôi biết anh ấy chân thành. Nếu có tiền, anh ấy sẽ rất sẵn lòng cho tôi vay.
"Tớ sẽ cố gắng cầm cự đến ngày 1 tháng 7. Lúc đó, tớ đã là luật sư quyền thế ở văn phòng Brodnax và Spear rồi. Những ngày tháng nghèo khổ sẽ lùi vào dĩ vãng. Buck thân mến, một năm tớ làm sao mà tiêu hết 34.000 đô la cơ chứ."
"Nghe thì có vẻ không tiêu hết được. Cậu sắp phát tài rồi."
"Ý tớ là, tớ đã sống bằng tiền tip và mấy đồng xu lẻ suốt 7 năm nay rồi, số tiền lớn như vậy tớ dùng vào việc gì đây?"
"Mua thêm bộ vest nữa?"
"Để làm gì? Tớ có hai bộ rồi."
"Hay là mua vài đôi giày?"
"Đúng, phải làm vậy. Tớ sẽ mua giày, Buck ạ, mua giày và cà vạt, có lẽ mua thêm chút thực phẩm không đóng hộp, biết đâu còn mua cả mấy chiếc quần đùi thể thao nữa."
Trong 3 năm qua, vợ chồng Buck ít nhất mỗi tháng hai lần mời tôi đến ăn cơm. Vợ anh tên Charlene, một cô gái Memphis, có thể nấu ra những món ngon tuyệt vời với chi phí rất thấp. Họ đều là bạn của tôi, tôi biết, họ đều đau lòng cho hoàn cảnh của tôi. Buck cười hì hì, rồi quay ánh mắt đi nơi khác. Anh không muốn tiếp tục đùa giỡn với tôi về chuyện không vui này nữa.
Anh đỗ xe ở bãi đỗ xe đối diện trường luật Đại học bang Memphis trên Đại lộ Trung tâm. "Tớ có chút việc phải đi đây," anh nói.
"Cậu đi đi. Cảm ơn vì đã cho tớ quá giang."
"Khoảng 6 giờ tớ quay lại. Chúng ta cùng ôn thi tư cách luật sư nhé."
"Được. Tớ ở dưới lầu."
Tôi đóng sầm cửa xe, sải bước băng qua Đại lộ Trung tâm.
Trong một góc tối tăm yên tĩnh ở tầng hầm thư viện trường luật, ở nơi mà người ta không thể nhìn thấy sau những kệ sách chứa đầy sách luật cũ kỹ, phòng học đơn yêu quý của tôi đang bỏ trống, đợi tôi ghé thăm như bao tháng ngày qua. Nơi này được đăng ký chính thức dưới tên tôi, dành riêng cho tôi sử dụng. Góc này không có cửa sổ, đôi khi ẩm ướt và lạnh lẽo, nên ít ai dám bén mảng tới. Trong cái hang nhỏ chuyên dụng này, tôi thường ngồi hàng giờ, hoặc là ghi chép án lệ, hoặc là ôn thi. Và trong vài tuần qua, tôi đã trải qua vô số giờ đau khổ ở đây, lặp đi lặp lại việc suy ngẫm xem rốt cuộc cô ấy đã xảy ra chuyện gì, tự hỏi tại sao cô ấy lại rời bỏ tôi. Tôi hành hạ bản thân mình ở đây. Chiếc bàn tôi sử dụng có ba mặt bao quanh bởi những tấm ván lớn, tôi đã thuộc lòng hình dáng vân gỗ trên từng tấm ván chắn. Tôi có thể khóc ở đây mà không sợ bị ai phát hiện. Tôi thậm chí có thể thì thầm chửi rủa mà không sợ bị ai nghe thấy.
Những ngày chúng tôi còn mặn nồng, Sarah đã đến đây không biết bao nhiêu lần. Chúng tôi học cùng nhau, hai chiếc ghế kê sát cạnh nhau. Chúng tôi có thể khúc khích cười ngốc nghếch, cũng có thể cười lớn tiếng, chẳng ai can thiệp. Chúng tôi có thể hôn nhau, âu yếm nhau, chẳng ai nhìn thấy. Giờ phút này, dù đang ở trong thung lũng của sự chán nản, tôi gần như vẫn có thể ngửi thấy mùi nước hoa trên người cô ấy.
Tôi thực sự nên tìm một chỗ học khác trong cái thư viện hỗn độn như mê cung này. Khi tôi trừng mắt nhìn vào tấm ván gỗ của bàn học lúc này, cái tôi nhìn thấy là gương mặt cô ấy, cái tôi nghĩ đến là cảm giác về đôi chân cô ấy. Tôi lập tức đau nhói như cắt, toàn thân tê dại. Chỉ vài tuần trước thôi, cô ấy vẫn còn ở đây, mà giờ đây, một kẻ nào đó khác lại đang vuốt ve đôi chân của cô ấy!
Tôi cầm lấy xấp tài liệu của Black, lên lầu đi đến khu lưu trữ sách về bảo hiểm của thư viện. Bước chân tôi chậm rãi, ánh mắt lại hướng về mọi phía. Bây giờ dù Sarah rất ít khi đến đây, nhưng tôi vẫn từng nhìn thấy cô ấy vài lần.
Tôi trải hồ sơ của Dot lên một chiếc bàn trống giữa hai kệ sách, đọc lại bức thư "ngu xuẩn đến cùng cực" kia. Bức thư này hèn hạ đến mức gây sốc, người viết thư rõ ràng tin chắc rằng Dot và Buddy sẽ không bao giờ mang nó đi cho luật sư xem. Tôi đọc lại một lần nữa, và nhận ra cơn đau thắt chí mạng lúc nãy đã bắt đầu dịu đi – dù cơn đau vẫn đến từng đợt, nhưng tôi đã dần học được cách đối phó với nó.
Sarah Plankmore cũng là sinh viên năm ba trường luật, là cô gái duy nhất mà tôi từng yêu cho đến nay. 4 tháng trước cô ấy đá tôi, lao vào vòng tay của một sinh viên trường đại học danh tiếng xuất thân từ gia đình quyền quý tại địa phương. Cô ấy nói với tôi, họ là người yêu cũ thời trung học, trong kỳ nghỉ Giáng sinh tình cờ gặp lại, thế là mối tình năm xưa lại bùng cháy. Cô ấy nói cô ấy rất không muốn đá tôi như vậy, nhưng trời cũng không vì thế mà sập xuống. Hiện nay, khắp nơi đều có lời đồn đại, nói rằng cô ấy đã mang thai. Lần đầu tiên nghe thấy tin đồn này, tôi thực sự đã nôn mửa.
Tôi đọc kỹ hợp đồng bảo hiểm của Công ty Đại Lợi mà Black đã mua, ghi chép từng trang một. Hợp đồng khó đọc như thiên thư. Tôi phân loại thư từ qua lại, mẫu đơn yêu cầu bồi thường và hồ sơ y tế. Bóng dáng của Sarah lúc này đã biến mất, tôi đắm chìm vào một vụ tranh chấp yêu cầu bồi thường bảo hiểm đang ngày càng bốc mùi hôi thối.
Hợp đồng của Black mua từ Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Đại Lợi ở Cleveland, bang Ohio, phí bảo hiểm là 18 đô la mỗi tuần. Tôi nghiên cứu cuốn sổ đóng phí. Từ cuốn sổ nhỏ dùng để ghi chép việc đóng phí hàng tuần này có thể thấy, nhân viên môi giới bảo hiểm tên Bobby Otto thực tế đã ghé thăm Black hàng tuần.
Bàn nhỏ của tôi bày đầy những xấp hồ sơ. Tôi đã xem hết những tài liệu mà Dot đưa cho. Tôi vừa xem vừa nghĩ đến vị giáo sư cộng sản Max Leberg vừa ghé thăm, cùng lòng thù hận mãnh liệt của ông đối với công ty bảo hiểm. Họ thống trị đất nước chúng ta, ông đã nói đi nói lại như vậy. Họ kiểm soát giới tài chính. Họ độc quyền bất động sản. Họ chỉ cần nhiễm một con virus, Phố Wall sẽ nôn mửa cả tuần. Và khi lãi suất giảm, lợi nhuận đầu tư của họ giảm đột ngột, họ sẽ chạy đến Đồi Capitol, yêu cầu cái gọi là cải cách. Những vụ kiện tụng không hồi kết đang giết chết chúng ta, họ gào thét. Những luật sư tranh tụng hèn hạ kia đang đưa ra những vụ kiện vô nghĩa, bằng mọi cách thuyết phục bồi thẩm đoàn phán cho nguyên đơn số tiền bồi thường khổng lồ. Chúng ta phải ngăn họ lại, nếu không chúng ta sẽ phá sản. Leberg thường nổi trận lôi đình, tức đến mức ném sách vào tường. Tất cả chúng tôi đều yêu quý ông.
Hiện ông vẫn đang giảng dạy tại đây. Tôi nghĩ cuối học kỳ này ông sẽ trở về Wisconsin. Nếu đủ can đảm, tôi hoàn toàn có thể mời ông nghiên cứu vụ án Black kiện Công ty Đại Lợi. Ông từng nói ở phương Bắc, ông đã từng giúp thắng vài vụ án lừa đảo có ảnh hưởng rất lớn, bồi thẩm đoàn đã phán quyết công ty bảo hiểm phải nộp khoản tiền phạt khổng lồ.
Tôi bắt đầu viết một bản tóm tắt cho vụ án này, bắt đầu từ ngày bán hợp đồng bảo hiểm, liệt kê tất cả các sự kiện quan trọng theo trình tự thời gian. Công ty Đại Lợi đã từ chối bằng văn bản 8 lần. Lần cuối cùng tất nhiên chính là bức thư "ngu xuẩn đến cùng cực" kia. Tôi gần như có thể nghe thấy tiếng huýt sáo và tiếng cười lớn của Max Leberg khi xem bức thư này, tôi ngửi thấy mùi máu.
Tôi hy vọng giáo sư Leberg cũng có thể ngửi thấy mùi máu này. Tôi tìm thấy văn phòng của ông giữa hai kho lưu trữ ở tầng ba trường luật. Trên cửa văn phòng dán đầy những tờ rơi về các cuộc diễu hành biểu tình và tẩy chay để bảo vệ quyền lợi người đồng tính, cũng như áp phích về các cuộc họp mặt nhằm bảo vệ các sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng, những hoạt động này ở Memphis chẳng mấy ai quan tâm. Cửa khép hờ, tôi nghe thấy ông đang gào thét vào ống nghe. Tôi nín thở, gõ cửa nhẹ nhàng.
"Vào đi!" ông hét lớn. Tôi chậm rãi bước vào phòng. Ông vẫy tay về phía chiếc ghế duy nhất trong phòng, trên đó chất đầy sách, tài liệu và tạp chí. Cả căn phòng như một bãi rác, hỗn độn không ngăn nắp, đâu đâu cũng là báo chí, vỏ chai rỗng và mảnh vụn. Những cuốn sách chất đầy lồi ra khỏi kệ, đè cho kệ sách võng xuống. Trên tường dán những tấm áp phích vẽ nguệch ngoạc, trên sàn là những mảnh giấy vụn rải rác. Thời gian và trật tự chẳng có ý nghĩa gì với Max Leberg.
Ông gầy gò nhỏ bé, tuổi đã lục tuần, mái tóc vàng nhạt bù xù dày đặc, đôi tay không lúc nào ngừng nghỉ. Ông mặc chiếc quần jean phai màu, chiếc áo nỉ tay dài trông rất chướng mắt và một đôi giày thể thao cũ. Khi thời tiết lạnh, đôi khi ông sẽ đi thêm tất. Cảm xúc của ông hưng phấn đến mức khiến tôi căng thẳng bất an.
Ông đặt mạnh ống nghe xuống cái "rắc". "Baker!"
"Baylor. Rudy Baylor. Lớp bảo hiểm. Học kỳ trước."
"Đúng! Đúng! Tôi nhớ rồi. Ngồi đi." Ông lại vẫy tay về phía chiếc ghế đó.
"Cảm ơn. Khỏi ạ."
Ông bận rộn thu dọn một xấp tài liệu trên bàn. "Vậy, Baylor, cậu có chuyện gì?" Max luôn sẵn lòng dành thời gian lắng nghe người khác, nên rất được sinh viên yêu quý.
"Chuyện là, ừm, thầy có rảnh không ạ?" Thông thường, tôi nên dùng giọng điệu trang trọng hơn, gọi ông một tiếng "thầy", hoặc nói vài câu khách sáo tương tự. Nhưng Max ghét sự khách sáo, kiên quyết bắt chúng tôi gọi bằng tên.
"Có, tôi rảnh. Cậu có vấn đề gì?"
"Ừm, học kỳ này em đang học một môn của giáo sư Smut," tôi giải thích. Sau đó, tôi nhanh chóng và ngắn gọn kể về buổi ăn trưa tại tòa nhà người cao tuổi, giới thiệu với ông về Dot và Buddy cũng như rắc rối của họ với Công ty Đại Lợi. Ông chăm chú lắng nghe từng chữ tôi nói.
"Cậu từng nghe nói về Công ty Đại Lợi chưa?" tôi hỏi.
"Nghe rồi. Đó là một công ty rất lớn, chuyên bán bảo hiểm giá rẻ cho người da trắng và da màu ở nông thôn. Rất thối nát."
"Trước đây em chưa từng nghe ai nhắc đến nó."
"Cậu sẽ không nghe thấy đâu. Họ không quảng cáo. Nhân viên môi giới của họ gõ cửa từng nhà để thu phí bảo hiểm hàng tuần. Chúng ta đang nói về cái góc bẩn thỉu nhất trong ngành này đấy. Đưa hợp đồng cho tôi xem nào."
Tôi đưa hợp đồng cho ông. Ông lật từng trang một. "Lý do họ từ chối bồi thường là gì?" ông hỏi, mắt không nhìn tôi.
"Đủ mọi lý do. Ban đầu nói là theo nguyên tắc, sau đó nói bệnh bạch cầu không thuộc phạm vi bảo hiểm, rồi nói bệnh bạch cầu là tình trạng có sẵn, cuối cùng lại nói cậu thanh niên đó đã trưởng thành nên không thể bảo hiểm dưới tên cha mẹ. Họ thực sự rất sáng tạo đấy."
"Phí bảo hiểm đều đã đóng đủ chưa?"
"Bà Black nói là đã đóng đủ rồi."
"Đồ khốn!" Ông lật thêm vài trang, vừa cười một cách độc địa. Ông thích vụ án này. "Tất cả tài liệu cậu đều xem qua rồi chứ?"
"Vâng. Tài liệu thân chủ đưa, em đều xem hết rồi."
Ông ném hợp đồng lên bàn. "Đúng là đáng để bắt," ông nói. "Nhưng cậu phải nhớ: thân chủ hiếm khi mang hết mọi thứ phơi bày trước mặt cậu đâu." Tôi đưa cho ông bức thư "ngu xuẩn đến cùng cực" kia. Trong lúc xem thư, trên mặt ông lại lộ ra vẻ cười nham hiểm. Ông xem lại một lần nữa, rồi bảo tôi: "Không thể tin được!"
"Ban đầu em cũng nghĩ vậy," tôi nói, giọng điệu như thể chính mình là một người giám sát ngành bảo hiểm lão luyện.
"Tài liệu khác đâu?" ông hỏi.
Tôi đặt xấp tài liệu lên bàn ông. "Tài liệu bà Black đưa em, tất cả ở đây rồi. Bà ấy nói họ không trả nổi phí y tế, con trai bà ấy sắp chết rồi. Nói cậu ấy bây giờ chỉ còn 110 pound, không sống được bao lâu nữa."
Đôi tay không lúc nào ngừng nghỉ của ông lúc này đột nhiên tĩnh lại. "Khốn kiếp," ông gần như tự lẩm bẩm chửi thề lần nữa. "Đồ khốn nạn đê tiện!"
Tất nhiên tôi hoàn toàn đồng ý với đánh giá của ông, nhưng không lên tiếng. Tôi phát hiện ở góc phòng còn có một đôi giày thể thao, một đôi Nike rất cũ. Ông từng nói với chúng tôi trong giờ học rằng, trước đây ông đi giày thể thao hiệu Converse, nhưng hiện tại vì nguyên tắc của bản thân, ông đang tẩy chay công ty này. Ông đang đánh một cuộc chiến cá nhân nhỏ với nước Mỹ vận hành theo chế độ công ty: chỉ cần công ty nào khiến ông cảm thấy khó chịu dù chỉ một chút, ông sẽ quyết không mua sản phẩm của công ty đó nữa. Ông không chịu mua bảo hiểm cho mạng sống, sức khỏe hay tài sản của mình, nhưng nghe nói nhà ông rất giàu, ông có thể chịu đựng được rủi ro do không mua bảo hiểm gây ra. Mặt khác, tôi lại vì lý do hoàn toàn khác mà sống trong nhóm người không mua bảo hiểm.
Các giáo sư dạy tôi hầu hết đều là những học giả cổ hủ, thắt cà vạt vào lớp, cài khuy áo giảng bài. Max mấy chục năm nay chưa từng thắt cà vạt một lần, và ông hoàn toàn không phải là giảng bài, mà là biểu diễn. Tôi thực sự không muốn ông rời khỏi trường luật.
Đôi tay ông lại bắt đầu hoạt động. "Tôi muốn tối nay nghiên cứu tài liệu này," ông nói, mắt không nhìn tôi.
"Không thành vấn đề. Sáng mai em đến, được không ạ?"
"Được. Lúc nào cũng được."
Điện thoại ông reo, ông chộp lấy ống nghe. Tôi mỉm cười lùi ra khỏi phòng, tảng đá trong lòng rơi xuống đất. Sáng mai tôi đến gặp ông, nghe ý kiến của ông, rồi viết một bức thư dài hai trang gửi cho Black, thuật lại không thiếu một chữ những lời khuyên ông đưa cho tôi.
Giờ nếu tìm được một người thông minh giúp tôi nghiên cứu chuyện của bà Birdie thì tuyệt vời quá. Trong lòng tôi có vài ứng cử viên, mấy giáo sư dạy thuế, có lẽ mai tôi có thể thử tìm họ. Tôi xuống lầu, đi vào phòng nghỉ của sinh viên cạnh thư viện. Đây là nơi duy nhất trong cả tòa nhà có thể hút thuốc, nên dưới ánh đèn luôn có làn khói xanh lượn lờ. Ở đây có một chiếc tivi, cùng đủ loại sofa và ghế ngồi cũ kỹ. Trên tường treo ảnh tập thể của các lớp, chủ nhân của những gương mặt chăm chú trong khung ảnh kia, sớm đã bị đưa vào chiến hào, xung phong chiến đấu trên chiến trường pháp luật. Khi phòng nghỉ không một bóng người, tôi thường nhìn chằm chằm vào các tiền bối của mình, thầm nghĩ: trong số họ có bao nhiêu người đã bị tước tư cách luật sư? Có bao nhiêu người ước rằng mình chưa từng nhìn thấy nơi này? Lại có mấy người thực sự cảm thấy vui vẻ khi kiện người khác hoặc biện hộ cho người khác? Có một bức tường chuyên dùng để dán thông báo, áp phích và tin tuyển dụng, số lượng phong phú đến mức kinh ngạc. Phía sau bức tường này là một hàng máy bán hàng tự động bán đồ uống và thực phẩm. Tôi đã ăn ở đây rất nhiều lần, vì thực phẩm máy bán giá rẻ.
Tôi nhìn thấy vị F. Franklin Donelson Đệ tứ đáng kính đang cuộn mình một bên, thì thầm to nhỏ với 3 chiến hữu. Họ đều viết bài cho "Tạp chí Luật", luôn nhìn chúng tôi – những kẻ không gửi bài – bằng nửa con mắt. Anh ta cũng nhìn thấy tôi, và có vẻ khá quan tâm đến chuyện gì đó của tôi. Khi tôi đi ngang qua anh ta, anh ta mỉm cười một cách khác thường. Bình thường, anh ta luôn mặt lạnh như tiền, cau mày nhíu trán.
"Này Rudy, nghe nói cậu sắp đến văn phòng Brodnax và Spear phải không?" anh ta hỏi lớn. Lúc này tivi đang tắt. Các chiến hữu của anh ta đều nhìn chằm chằm vào tôi. Hai nữ sinh viên ngồi trên sofa cũng dỏng tai lên, nhìn về phía tôi.
"Đúng vậy. Thì sao nào?" tôi hỏi. Văn phòng mà anh ta sắp đến làm việc vô cùng nổi tiếng, giàu có và quyền thế, tốt hơn Brodnax và Spear không biết bao nhiêu lần. Trong số mấy người anh em đang ở cùng anh ta lúc này, W. Harper Whitson là một gã nhỏ nhen ngạo mạn, vô lễ; tạ ơn trời đất, hắn sắp rời Memphis để đến làm việc tại một văn phòng lớn ở Dallas. Một người khác tên J. Townsend Gross, anh ta cũng tìm được việc ở một văn phòng lớn. Còn một người nữa là James Strayer-Beck. Người này đôi khi lại khá thân thiện, nhưng khổ nỗi học trường luật 3 năm, lại không thể giống như Franklin, thêm một chữ cái trước tên, thêm một con số sau họ để nâng cao thân phận của mình. Do tên tuổi quá ngắn, hy vọng trở thành luật sư ở văn phòng lớn hiện đang gặp nguy hiểm. Tôi nghi ngờ liệu anh ta có thể thành công hay không.
F. Franklin Đệ tứ cười tươi rói, bước về phía tôi một bước. "Này, nói cho chúng tôi nghe về tình hình hiện tại đi."
"Tình hình hiện tại?" Tôi chẳng hiểu anh ta đang nói gì.
"Phải đó, cậu biết đấy, chính là chuyện sáp nhập ấy."
Tôi giữ gương mặt lạnh tanh. "Sáp nhập gì cơ?"
"Chẳng lẽ cậu chưa nghe nói sao?"
"Nghe nói gì cơ?"
F. Franklin Đệ Tứ liếc nhìn đám bạn hữu, bọn họ ai nấy đều đang khoái chí. Hắn nhìn tôi, cười hì hì nói: "Này Rudy, chính là việc Broadnax & Spear bị Tinley Britt thâu tóm đấy."
Tôi lặng lẽ đứng đó, trí não vận chuyển cực nhanh, cố gắng tìm ra một câu nói khôn ngoan hoặc sắc sảo. Nhưng lúc này, tôi chẳng tìm nổi lấy một từ thích hợp. Rõ ràng là tôi chẳng hay biết gì về vụ sáp nhập; và cũng rõ ràng là gã đáng ghét này lại biết rất rõ về nó. Broadnax & Spear chỉ là một văn phòng luật nhỏ với vỏn vẹn 15 luật sư, và tôi là người duy nhất được họ tuyển dụng từ khóa của chúng tôi. Hai tháng trước khi tôi đàm phán với họ, họ chẳng hề hé răng nửa lời về chuyện sáp nhập.
Mặt khác, Tinley Britt lại là văn phòng luật lớn nhất, tự phụ nhất, danh giá nhất và giàu có nhất bang này, với số lượng luật sư lên tới 120 người. Nhiều người trong số họ tốt nghiệp các trường đại học Ivy League danh tiếng, nhiều người có gia đình đang giữ chức vụ trong chính phủ liên bang. Khách hàng của văn phòng thế lực này đều là những tập đoàn hùng mạnh và các cơ quan chính phủ. Họ còn có văn phòng tại Washington để vận động hành lang cho các nhân vật tầm cỡ. Đó là một pháo đài của chủ nghĩa bảo thủ cứng rắn, với đối tác là một cựu thượng nghị sĩ. Nhân viên của họ làm việc 80 giờ mỗi tuần, tất cả đều mặc âu phục màu xanh navy hoặc đen, áo sơ mi trắng cổ cài khuy, thắt cà vạt kẻ sọc, tóc cắt ngắn, không ai được phép để râu trên mặt. Chỉ cần nhìn dáng đi hiên ngang và trang phục của họ, bạn có thể nhận ra ngay ai là luật sư của Tinley Britt giữa đám đông. Vì nhân viên văn phòng này toàn là nam giới xuất thân từ tầng lớp trung lưu trở lên, đều tốt nghiệp trường danh giá và tham gia các hội nhóm tôn giáo nổi tiếng, nên đồng nghiệp trong giới luật Memphis vẫn luôn giễu cợt gọi nó là "Trent & Brent".
J. Townsend Gross đút hai tay vào túi, cười khẩy với tôi. Hắn đứng thứ hai trong lớp, mặc chiếc áo sơ mi Polo hồ cứng cáp, lái xe BMW, nên chẳng tốn chút sức lực nào đã được Trent & Brent thu nạp dưới trướng.
Chân tôi mềm nhũn, bởi tôi thừa hiểu Trent & Brent sẽ chẳng đời nào nhận mình. Nếu Broadnax & Spear thực sự sáp nhập với cái gã khổng lồ này, e là tôi đã thua ngay từ lúc bắt đầu xáo bài rồi.
"Tôi không nghe nói gì cả," tôi đáp một cách yếu ớt. Hai cô gái ngồi trên ghế sofa đang chăm chú quan sát. Không ai lên tiếng.
"Ý cậu là họ không nói cho cậu biết ư?" F. Franklin Đệ Tứ nghi ngờ hỏi. "Jack nghe thấy từ trưa nay đấy," hắn nói, đầu hất về phía J. Townsend Gross.
"Là thật," J. Townsend nói, "nhưng tên văn phòng sẽ không thay đổi."
Nếu không dùng tên Trent & Brent, thì văn phòng ấy phải gọi là Tinley Britt Kraft Meyer & St. John. Nhờ có người nhân từ từ nhiều năm trước đã chọn hình thức ngắn gọn này. Thông qua việc tuyên bố tên văn phòng giữ nguyên, J. Townsend đã truyền đi một thông điệp tới thính giả ít ỏi này: Broadnax & Spear nhỏ bé và không đáng kể đến mức Tinley Britt có thể nuốt chửng nó trong một miếng mà chẳng cần ợ hơi.
"Vậy là vẫn gọi là Trent & Brent sao?" tôi hỏi J. Townsend. Hắn đáp lại bằng một cái cười khinh bỉ trước biệt danh có phần hơi quá đà này.
"Tôi không tin là họ lại không nói với cậu," F. Franklin Đệ Tứ tiếp tục.
Tôi nhún vai, làm như chuyện này chẳng có gì to tát. Đi đến cửa, tôi nói: "Cậu quan tâm đến chuyện này quá mức rồi đấy, Frankie." Bọn họ đắc thắng, cười ha hả đầy ngạo mạn, như thể đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tôi rời phòng nghỉ, bước vào thư viện. Người quản lý sau quầy đang vẫy tay với tôi.
"Có người để lại mẩu giấy cho cậu này," anh ta nói rồi đưa tôi một mảnh giấy nhỏ. Lloyd Buick, đối tác quản lý của văn phòng Broadnax & Spear, người vừa mới tuyển dụng tôi không lâu, muốn tôi gọi điện cho ông ta.
Trong phòng nghỉ có điện thoại công cộng, nhưng tôi không muốn gặp lại F. Franklin Đệ Tứ và lũ côn đồ của hắn. "Tôi có thể mượn điện thoại của anh dùng một chút được không?" tôi hỏi người quản lý. Anh ta là sinh viên năm hai, nhưng dáng vẻ cứ như thể thư viện là tài sản riêng của anh ta vậy.
"Điện thoại công cộng ở ngay trong phòng nghỉ," anh ta vừa nói vừa chỉ tay, như thể tôi đã học luật ở đây 3 năm rồi mà vẫn không biết phòng nghỉ sinh viên nằm ở đâu.
"Tôi vừa ở đó ra, điện thoại đều đang bận cả rồi."
Anh ta nhíu mày, nhìn quanh bốn phía. "Được thôi. Nhưng cậu phải nhanh lên đấy."
Tôi nhấn mạnh số của văn phòng Broadnax & Spear. Bây giờ đã gần 6 giờ, mà các thư ký thì 5 giờ đã tan làm. Chuông reo 9 hồi, tôi nghe thấy một người đàn ông nói ngắn gọn: "Alo."
Tôi quay lưng lại với quầy thư viện, cố gắng thu mình vào giữa những kệ sách dự phòng. "Chào anh, tôi là Rudy Baylor. Hiện tôi đang ở trường luật. Có một mẩu giấy thông báo tôi gọi điện cho Lloyd Buick, nói là có việc rất khẩn cấp." Trên giấy không hề ghi khẩn cấp hay không, nhưng lúc này tôi chẳng còn tâm trí đâu mà quan tâm nữa.
"Rudy Baylor? Cậu có chuyện gì?"
"Tôi là người mà các anh mới tuyển dụng cách đây không lâu."
"Ồ, đúng rồi, Baylor. Tôi là Carlson Bell. Lloyd đang họp, không làm phiền được. Một tiếng nữa gọi lại xem sao."
Khi họ dẫn tôi đi tham quan văn phòng, tôi đã gặp Carlson Bell một lần. Ấn tượng của tôi về ông ta là một gã luật sư cáo già điển hình, thân thiện với bạn một giây, rồi ngay lập tức vùi đầu vào công việc, chẳng thèm ngó ngàng tới ai. "À, thưa ông Bell, tôi nghĩ mình cần phải nói chuyện với ông Buick."
"Xin lỗi, bây giờ không được. Hả?"
"Tôi nghe thấy lời đồn rằng các anh sắp bị Trent, à, bị Tinley Britt thâu tóm. Chuyện này có thật không?"
"Này Rudy, tôi rất bận, bây giờ không thể nói chuyện với cậu được. Một tiếng nữa hãy gọi lại, Lloyd sẽ giải quyết việc của cậu."
Giải quyết việc của tôi? "Công việc của tôi vẫn còn chứ?" tôi lo lắng hỏi, giọng đã có phần tuyệt vọng.
"Một tiếng nữa gọi lại," ông ta nói đầy thiếu kiên nhẫn rồi dập mạnh ống nghe điện thoại.
Tôi viết vài chữ lên giấy rồi đưa cho người quản lý. "Anh có quen Buck Cain không?"
"Có."
"Tốt. Vài phút nữa cậu ấy sẽ đến. Đưa mẩu giấy này cho cậu ấy. Bảo cậu ấy là khoảng một tiếng nữa tôi sẽ quay lại."
Anh ta lầm bầm một câu nhưng vẫn nhận lấy mẩu giấy. Tôi rời khỏi thư viện, vừa cẩn thận lẻn qua phòng nghỉ, vừa cầu nguyện Chúa phù hộ đừng để ai nhìn thấy mình, rồi bước ra khỏi tòa nhà đến bãi đỗ xe, nơi chiếc Toyota đang chờ sẵn. Tôi hy vọng động cơ vẫn còn nổ máy được. Một trong những bí mật thầm kín nhất của tôi là: tôi vẫn còn nợ một công ty tài chính gần 300 đô la cho chiếc xe cà tàng đáng nguyền rủa này. Ngay cả Buck tôi cũng giấu nhẹm. Cậu ấy vẫn tưởng tiền mua xe đã trả đủ rồi chứ—