Phải luôn đánh giá thấp năng lực của bản thân;
Phải luôn giữ vững lập trường phụ thuộc, không được vượt quyền;
Phải luôn học hỏi về chính trị;
Phải luôn tự bảo vệ mình trong sự quanh co và thỏa hiệp;
Phải biết buông bỏ, có buông bỏ lớn mới có thành tựu lớn.
—— Thiết Bản và Đới Quốc Phương đã dùng câu chuyện của chính mình để kể về "đạo kinh doanh kiểu Trung Quốc".
"Trong mỗi thỏi thép đều ẩn chứa bí mật về sự hưng suy của một quốc gia." W. Class, người viết tiểu sử của Andrew Carnegie (1835—1919), đã nói như vậy. Carnegie sinh ra trong một gia đình làm nghề dệt nghèo khó. Ông gặp đúng thời đại kinh tế Mỹ trỗi dậy mạnh mẽ, dựa vào khả năng tích lũy tài sản thiên bẩm và nghị lực phi thường, ông đã xây dựng nhà máy thép lớn nhất thế giới lúc bấy giờ bên bờ sông Mississippi, và nhờ đó trở thành người giàu nhất đầu tiên trong lịch sử hiện đại nước Mỹ.
Hơn 100 năm sau, tại Trung Quốc, cũng có một người xuất thân nghèo khó tương tự, ông muốn xây dựng nhà máy thép lớn nhất Trung Quốc bên bờ sông Trường Giang. Nếu thành công, rất có thể ông cũng sẽ giống như Carnegie, trở thành người giàu nhất mới của quốc gia này.
Đáng tiếc, ông đã thất bại ngay trước ngưỡng cửa thành công.
Câu chuyện của Đới Quốc Phương và Thiết Bản mang ý nghĩa sâu xa, trong đó có lẽ thực sự ẩn chứa nhiều "bí mật sâu sắc" của thời đại đại biến động này.
Ý tưởng xây dựng một nhà máy thép lớn của Đới Quốc Phương bất ngờ bùng phát vào mùa xuân năm 2002. Khi đó, người đàn ông 39 tuổi này đi đi lại lại bên bờ đê phía nam sông Trường Giang, giống như một đứa trẻ vừa nhặt được báu vật.
Đây là một đứa trẻ khổ cực lớn lên từ những bụi cỏ hoang, ông sinh ra tại một ngôi làng nhỏ tên là Độc Nam thuộc thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 12 tuổi, vì gia đình quá nghèo khó, ông đành phải bỏ học để kiếm sống. Công việc đầu tiên của ông là nhặt nhạnh phế liệu đồng sắt. Cùng với sự phát triển của mô hình kinh tế Tô Nam, vùng Thường Châu mọc lên rất nhiều doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, Đới Quốc Phương mỗi ngày đều đi nhặt và thu mua phế liệu quanh các nhà máy. Dù không được học hành nhiều, nhưng ông dường như có thiên phú đặc biệt về kinh doanh. Sau khi tích cóp được chút tiền, ông mua một chiếc máy cày tay, nhờ đó bán kính thu mua được mở rộng đáng kể; không lâu sau, ông lại mua thêm một chiếc máy ép, ép những mảnh sắt vụn thu mua được thành khối để bán với giá cao hơn.
Trong một thời gian dài sau khi cải cách mở cửa, tình trạng thiếu hụt năng lượng luôn là nút thắt lớn nhất gây khó khăn cho các doanh nghiệp ở vùng đồng bằng sông Trường Giang, cũng chính vì vậy, sự tăng trưởng của ngành thép luôn khá tốt. Khoảng năm 1984, Đới Quốc Phương dành ra một mảnh đất cạnh sân nhà cũ, treo biển lập một xưởng luyện thép tên là Xưởng cán thép Tam Hữu. Ông mua lại vài chiếc lò chuyển và lò nấu sắt cũ đã bị loại bỏ từ các doanh nghiệp nhà nước như Xưởng thép số 3 Thượng Hải, hình thành nên một chuỗi sản xuất đơn giản. Sau khi tích lũy được kinh nghiệm luyện thép nhất định, Đới Quốc Phương lại chạy đến những vùng lân cận Thường Châu, nhận thầu một số phân xưởng của các nhà máy thép nhà nước đang trên bờ vực phá sản. Đó là thời đại mà thể chế quyết định hiệu suất, những phân xưởng luyện thép không còn sức sống trong tay các giám đốc nhà máy nhà nước, một khi chuyển sang tay Đới Quốc Phương, lập tức biến thành cỗ máy kiếm tiền. Có thời điểm, ông nắm trong tay tới 5 phân xưởng thầu.
Năm 1996, Đới Quốc Phương đăng ký thành lập Công ty TNHH Đúc thép Thiết Bản Giang Tô, với vốn đăng ký 2 triệu nhân dân tệ. Ý nghĩa của "Thiết Bản" là khởi nghiệp từ sắt, không rời bỏ nghề gốc. Đến khoảng năm 2000, diện tích nhà máy của Thiết Bản mở rộng lên 18 hecta, có hơn 1000 công nhân, doanh thu bán hàng vượt quá 100 triệu nhân dân tệ. Tuy nhiên, quy mô nhà máy vẫn còn nhỏ, trình độ kỹ thuật thấp, sản phẩm đều là các loại hàng cấp thấp như trục cán, phôi đúc liên tục. Để đưa Thiết Bản lên một tầm cao mới, Đới Quốc Phương quyết định dốc toàn bộ gia sản để đầu tư dự án lò cao, bởi chỉ có như vậy mới có thể thoát khỏi hàng ngàn nhà máy luyện thép nhỏ lẻ. 3 năm sau, dự án lò cao của Thiết Bản hoàn thành, Đới Quốc Phương trước mặt hàng ngàn công nhân, quỳ gối trước lò cao không đứng dậy, nước mắt hòa cùng mồ hôi chảy xuống. Năm đó là năm cất cánh của Thiết Bản, sản lượng thép cả năm tăng vọt lên 1 triệu tấn, doanh thu bán hàng vượt quá 2,5 tỷ nhân dân tệ. Trong "Danh sách 400 người giàu Trung Quốc" của tạp chí "Tài phú mới" năm đó, ông xếp thứ 376, tài sản ước tính là 220 triệu nhân dân tệ.
Ngay trong quá trình xây dựng dự án lò cao, trong lòng Đới Quốc Phương đã nhen nhóm một giấc mơ lớn hơn.
Sau năm 2001, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng và liên tục của kinh tế vĩ mô, các loại năng lượng đều thiếu hụt nghiêm trọng, trong đó thép và điện là hai mặt hàng khan hiếm nhất. Trên thị trường thép, dù là thép dây hay thép tấm, thép thường hay thép đặc chủng, giá cả đều liên tục tăng, gần như đến mức "một ngày một giá". Trước cổng nhà máy Thiết Bản, những chiếc xe tải lớn từ khắp nơi trên cả nước xếp thành hàng dài chờ lấy hàng, cảnh tượng đó diễn ra hàng ngày. Theo ước tính của Đới Quốc Phương, cơn sốt thép này của Trung Quốc ít nhất còn có thể kéo dài từ 5 đến 6 năm, đây hẳn là cơ hội thị trường lớn mà người làm thép cả đời khó gặp.
Đới Quốc Phương chọn địa điểm nhà máy mới ở một dải đất hẹp dọc bờ sông Trường Giang. Dọc theo hạ lưu sông Trường Giang, có một hành lang thép rất nổi tiếng, từ tây sang đông, lần lượt là Vũ Hán Steel của Hồ Bắc, Cửu Giang Steel của Giang Tây, Mã An Sơn Steel của An Huy, Nam Kinh Steel của Giang Tô, Tập đoàn Bảo Steel của Thượng Hải, sừng sững như những người khổng lồ, không ai là không nằm trong "Top 100 doanh nghiệp công nghiệp hàng đầu Trung Quốc". Đới Quốc Phương, người chưa học hết tiểu học, muốn xây dựng Thiết Bản tương lai bên cạnh những "ông lớn" mang danh quốc gia này.
Kế hoạch xây dựng mới của Thiết Bản nhận được sự ủng hộ tích cực từ chính quyền thành phố Thường Châu. Thường Châu cùng với Tô Châu, Vô Tích được gọi chung là "Tô Tích Thường", là cái nôi của mô hình Tô Nam. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở đây rất phát triển và năng động, nhưng so với Tô Châu và Vô Tích, các doanh nghiệp lớn lại là một điểm yếu. Khoảng năm 2001, tỷ lệ tăng trưởng đầu tư tài sản cố định xã hội của Thường Châu luôn đứng đầu Giang Tô, nhưng GDP chỉ xếp thứ sáu trong số 13 thành phố trực thuộc tỉnh. Thường Châu đang khao khát cần một khoản đầu tư quy mô cực lớn để lấp đầy khoảng cách khiến những người cầm quyền phải xấu hổ này. Trong báo cáo của chính quyền thành phố những năm đó, "toàn thành phố đồng tâm hiệp lực, nắm bắt đầu tư, triển khai dự án, tăng cường nội lực, đẩy nhanh xây dựng các doanh nghiệp lớn, dự án lớn, nỗ lực đạt được những đột phá mới về tổng lượng đầu tư và quy mô dự án", là một chiến lược phát triển năm nào cũng phải nhắc đến và vô cùng cấp bách. Lúc này, Thiết Bản đã là một doanh nghiệp lớn của thành phố Thường Châu, nộp thuế xếp thứ hai toàn thành phố, ý tưởng của Đới Quốc Phương vừa đưa ra đã lập tức nhận được sự hưởng ứng của chính quyền thành phố. Ai cũng biết, thép là ngành đầu tư lớn, thu hoạch lớn, giấc mơ của Thiết Bản lập tức trở thành giấc mơ của chính quyền thành phố Thường Châu.
Trong mắt nhiều quan chức Thường Châu, Đới Quốc Phương là một người đáng tin cậy. Ông có khuôn mặt gầy gò, ít nói, cả đời không có bất kỳ sở thích nào, chỉ biết vùi đầu vào nhà máy, cùng các kỹ thuật viên nghiên cứu. Ông là "ông chủ năm không" nổi tiếng địa phương — không ngồi xe sang, không vào nơi giải trí, không ăn uống xa hoa, không cờ bạc, thậm chí không ở khách sạn cao cấp, đời sống thường ngày vô cùng giản dị, mọi khoản tiết kiệm trong nhà đều đổ vào nhà máy, cha và mẹ kế vẫn ở dưới quê làm ruộng trồng rau. Gia đình ông sống trong một ngôi nhà nhỏ rất tồi tàn trong nhà máy thép, một bức tường của ngôi nhà bị xe tải lớn đâm thủng một lỗ, ông cũng không để tâm. Chiếc xe ông đi quanh năm là một chiếc Santana 2000 nhận về để trừ nợ, dù đã trở thành tỷ phú trong danh sách người giàu, ông vẫn không thay đổi bản chất tiết kiệm.
Ban đầu, ý tưởng của Đới Quốc Phương không hề hoành tráng như sau này. Tháng 5 năm 2002, kế hoạch ông đề ra là xây dựng một nhà máy mới có công suất lớn hơn nhà máy hiện tại hơn 1 lần, hạng mục xây dựng chính là hai lò cao và một bến tàu nước sâu sâu 14 mét, chiếm diện tích 2000 mẫu, sản xuất 2,6 triệu tấn thép tấm dày rộng mỗi năm, tổng mức đầu tư khoảng 1 tỷ nhân dân tệ, chủ yếu dựa vào vốn tự có để luân chuyển đầu tư.
Tuy nhiên, dưới sự thúc đẩy nhiệt tình của những người liên quan, dự án Thiết Bản thay đổi hết lần này đến lần khác, ngày càng phình to. Chỉ trong 6 tháng ngắn ngủi, quy mô dự án từ mức hơn 2 triệu tấn ban đầu, tăng lên mức 4 triệu tấn, 6 triệu tấn, cuối cùng được chốt ở mức 8,4 triệu tấn, diện tích chiếm đất tăng từ 2000 mẫu lên 9379 mẫu, dự toán công trình lên tới con số thiên văn là 10,6 tỷ nhân dân tệ, định vị sản phẩm là các loại hàng cao cấp như thép đóng tàu và thép vằn.
Vào thời điểm đó, tài sản cố định của Thiết Bản là 1,2 tỷ nhân dân tệ, tài sản ròng 670 triệu nhân dân tệ. Với quy mô vốn như vậy mà khởi động một dự án hơn 10 tỷ nhân dân tệ, không nghi ngờ gì là "ngựa nhỏ kéo xe lớn". Đới Quốc Phương nói với cấp dưới: "Địa phương ủng hộ như vậy, biết tìm đâu ra cơ hội tốt thế này?" Và chính vì xác nhận được thông tin chính quyền ủng hộ, các ngân hàng địa phương đã mạnh dạn cho Thiết Bản vay vốn, kết quả là Thiết Bản lập tức nhận được hạn mức tín dụng ngân hàng lên tới 4,399 tỷ nhân dân tệ.
Một doanh nghiệp tư nhân muốn khởi động dự án thép đầu tư hơn 10 tỷ nhân dân tệ, chiếm diện tích gần vạn mẫu, rất khó để nhận được sự phê duyệt của các cơ quan chức năng trung ương. Ngành thép Trung Quốc là một ngành bán độc quyền có ngưỡng cửa gia nhập, theo quy định liên quan, các dự án có vốn đầu tư trên 30 triệu USD đều phải báo cáo Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia phê duyệt. Nếu dự án Thiết Bản báo cáo đúng sự thật, không những quy trình phê duyệt kéo dài đằng đẵng, mà cơ hội được phê duyệt cũng vô cùng mong manh.
Cải cách kinh tế Trung Quốc từ trước đến nay luôn có truyền thống "vượt rào", cái gọi là "thấy đèn xanh thì chạy nhanh, thấy đèn đỏ thì đi vòng", rất nhiều cuộc cải cách đã thành công nhờ kiểu vượt rào này và trở thành giai thoại về sau; cũng có không ít người ngã ngựa trong quá trình này, trở thành điển hình vi phạm pháp luật. Sự chênh lệch giữa phát triển cải cách và thiết kế thể chế này đã trở thành một hiện tượng xám xuyên suốt lịch sử doanh nghiệp Trung Quốc. Người Thường Châu trong dự án Thiết Bản cũng đã thử "vượt rào". Tâm lý may rủi mà mọi người ôm giữ là, một khi đã đổ vào vài trăm triệu thậm chí hàng tỷ nhân dân tệ, chẳng lẽ lại bắt đứa trẻ đã sinh ra chui ngược lại vào bụng mẹ?
Thế là, dự án 8,4 triệu tấn của Thiết Bản bị chia nhỏ thành 7 dự án con và 1 dự án bến tàu để báo cáo riêng lẻ, Thiết Bản tương ứng thành lập 7 "công ty liên doanh Trung - nước ngoài" hữu danh vô thực, trong việc phê duyệt quyền sử dụng đất xây dựng, diện tích đất bị "chia nhỏ ra", cắt thành 14 mảnh đất để nộp đơn xin phê duyệt. Cục Phát triển Kinh tế Khu công nghệ cao Thường Châu nơi dự án tọa lạc, chỉ trong một ngày đã hỏa tốc phê duyệt tất cả các dự án cơ sở hạ tầng. Sau này khi ở trong trại tạm giam, Đới Quốc Phương nói với phóng viên đến phỏng vấn: "Tất cả các thủ tục lúc đó đều do chính quyền làm, chúng tôi cũng không hỏi đến những việc này. Khi chính quyền nói có thể động thổ, chúng tôi liền khởi công."
Nếu dự án Thiết Bản không bị cưỡng chế dừng lại, thì việc "vượt rào" của thành phố Thường Châu sẽ trở thành một ví dụ điển hình tuyệt vời nữa về việc các cơ quan chính quyền tích cực ủng hộ doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ.
Có được sự ủng hộ hết mình của chính quyền, Đới Quốc Phương dồn toàn bộ tâm trí vào tính khả thi của dự án.
Ngành thép tuy bề ngoài là ngành "đầu vào lớn, đầu ra lớn", nhưng bí mật lợi nhuận của nó vẫn là nghệ thuật kiểm soát quy mô và chi phí. Hơn 100 năm trước, Andrew Carnegie khi xây dựng đế chế thép của mình đã thiên tài phát hiện ra nguyên tắc này. Ông nói: "Giá cả rẻ hay đắt tỉ lệ thuận với quy mô sản xuất, vì vậy, quy mô sản xuất càng lớn, chi phí càng thấp... Giảm chi phí, chiếm lĩnh thị trường, chạy hết công suất, chỉ cần kiểm soát tốt chi phí, lợi nhuận tự nhiên sẽ đến."
Đới Quốc Phương chưa từng đọc sách của Carnegie, nhưng ông lại tuân thủ "nguyên tắc Carnegie" một cách không sai lệch.
Quy mô 8,4 triệu tấn đã đủ để Thiết Bản lọt vào hàng ngũ những công ty thép lớn nhất Trung Quốc, lúc bấy giờ toàn quốc chỉ có hai nhà máy thép trên 10 triệu tấn là Bảo Steel và Đường Steel. Đới Quốc Phương thuê rất nhiều chuyên gia thép hàng đầu tham gia luận chứng và định vị, về mặt kỹ thuật, từ rèn luyện, luyện sắt đến thiêu kết, luyện cốc, đều sử dụng thiết bị tiên tiến nhất trong nước, lò cao thì sử dụng loại 120 tấn mà nhà nước cho phép.
Cũng như hầu hết các lĩnh vực khác, doanh nghiệp thép tư nhân luôn có lợi thế về chi phí. Tài liệu cho thấy, chi phí luyện sắt của doanh nghiệp tư nhân thấp hơn doanh nghiệp nhà nước từ 60 đến 90 nhân dân tệ mỗi tấn, chi phí luyện thép thấp hơn từ 60 đến 150 nhân dân tệ mỗi tấn, thành phẩm thấp hơn từ 100 đến 300 nhân dân tệ mỗi tấn. Do đó, Đới Quốc Phương nói: "Giống như xây nhà ở nhà vậy, bạn đi mua một ngôi nhà làm sẵn, nó đắt vô cùng, chúng tôi tự đi mua vật liệu xây, nó có thể rẻ hơn 50%. Chúng tôi làm một cái lò cao chỉ mất hơn 300 triệu, trong khi người khác phải mất 700 triệu thậm chí 800 triệu." Để hình thành lợi thế chi phí lâu dài, Đới Quốc Phương còn đạt được thỏa thuận cung cấp quặng sắt dài hạn với một công ty Úc, rẻ hơn nhiều so với giá thị trường. Khi đó, giá thỏa thuận của ông là hơn 300 nhân dân tệ mỗi tấn, trong khi trên thị trường là khoảng 1000 nhân dân tệ mỗi tấn, hơn nữa giá này còn không thay đổi trong thời gian dài.
Những biện pháp đầu tư này của Đới Quốc Phương, cộng với sự nóng bỏng liên tục của thị trường thép, khiến gần như tất cả mọi người đều giữ thái độ lạc quan với dự án này. Bản thân Đới Quốc Phương cũng tràn đầy tự tin. Ông nói với phóng viên truyền thông Giang Tô đến phỏng vấn: "Thiết Bản sẽ vượt qua Bảo Steel trong 3 năm, đuổi kịp POSCO trong 5 năm." Bảo Steel và POSCO lần lượt là hai nhà máy thép lớn nhất của Trung Quốc và Hàn Quốc, xếp thứ năm và thứ ba toàn cầu.