Đại Bại Cục 2

Lượt đọc: 369 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khu công viên phần mềm: Chạy đua chiếm đất khắp cả nước để làm địa chủ

❊ ❊ ❊

Xét trên một phương diện nào đó, "Tây bộ Phần mềm viên" thực chất là một dự án bất động sản thương mại.

Về ý niệm kinh doanh, đây là một mô hình rất đáng để thử nghiệm: thông qua việc xây dựng các căn cứ công nghiệp, tập hợp đông đảo các doanh nghiệp công nghệ cao lại với nhau để đạt được hiệu quả tập trung, từ đó thể hiện vai trò "vườn ươm" của các doanh nghiệp công nghệ cao. Với tư cách là nhà đầu tư và quản lý khu công viên, lợi ích lâu dài của tập đoàn Thác Phổ là rất đáng kỳ vọng. Bangalore của Ấn Độ hay Khu khoa học Tân Trúc của Đài Loan, Trung Quốc đều là những mô hình có thể tham khảo. Năm 1995, Khu công nghiệp Tô Châu do chính phủ Tô Châu và Singapore cùng hợp tác khởi động lại càng là một hình mẫu ngay trước mắt. Việc Thác Phổ được thị trường vốn săn đón, thực chất cũng là vì người ta đánh giá cao sự ưu việt trong mô hình của nó. Năm 1997, Tống Như Hoa thực ra đã có cơ hội này: dựa vào sự ủng hộ toàn lực của chính phủ cùng sự tin tưởng của thị trường vốn để hiện thực hóa dự án "Tây bộ Phần mềm viên", làm cho đến nơi đến chốn, thực sự thu hút được một số công ty công nghệ cao, có lẽ thật sự có khả năng xây dựng nên một "Thung lũng Silicon" ở miền Tây Trung Quốc.

Trong các hoạt động công khai, Tống Như Hoa dường như cũng đang tiến bước theo đúng kỳ vọng của mọi người. Sau khi thâu tóm Xuyên Trường Chinh, ông ta thành lập Công ty Cổ phần Phần mềm Tây bộ Thành Đô, đưa Viện Nghiên cứu Phần mềm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc vào cuộc, để họ trở thành cổ đông lớn thứ hai thông qua hình thức góp vốn bằng tài sản vô hình. Ông ta tuyên bố: "Sẽ xây dựng 'Tây bộ Phần mềm viên' thành trung tâm phần mềm và trung tâm kỹ thuật lớn nhất trong nước, phấn đấu đến năm 2000 đạt giá trị sản lượng 5 tỷ tệ, năm 2010 đạt 50 tỷ tệ, và đến năm 2050 sẽ đuổi kịp các khu công nghệ cao đẳng cấp quốc tế với giá trị sản lượng đạt 50 tỷ USD". Trên cánh đồng hoa cải ở trấn Hồng Quang, những nhà máy phần mềm, quần thể biệt thự, trung tâm giao lưu học thuật đối ngoại và một khách sạn cao cấp dùng để tiếp khách cũng đã mọc lên. Thế nhưng, công trình xây dựng hoành tráng của ông ta chỉ dừng lại ở đó. Tiếp theo, ông ta bắt đầu tung ra một loạt các hoạt động mở rộng khiến người ta hoa mắt chóng mặt.

Đối với một Tống Như Hoa đã không thể rút chân ra khỏi cơn sốt khái niệm và đầu cơ vốn, việc dẫn dắt từng doanh nghiệp công nghệ này đến doanh nghiệp khác vào khu công viên, rồi tĩnh tâm xây dựng "Tây bộ Phần mềm viên" từng viên gạch một, thực sự là một nhiệm vụ quá đỗi dài hơi. Ông ta muốn khuếch đại "hiệu ứng công viên phần mềm" lên hàng chục, hàng trăm lần. Nếu thành Rome không thể xây xong trong một ngày, vậy thì ông ta thà tự xây dựng một "đế quốc" khác còn hơn.

Kế hoạch của ông ta là mượn hiệu ứng gây chấn động của "Tây bộ Phần mềm viên" để "sao chép" mô hình này ra khắp Trung Quốc. Chẳng bao lâu sau, ông ta lại bay khắp cả nước như cách đã từng tiếp thị hệ thống phần mềm tính thuế vài năm trước, bận rộn và đầy nhiệt huyết; lúc này, thứ ông ta đang tiếp thị chính là "mô hình công viên phần mềm".

Cách Tống Như Hoa tiếp thị công viên phần mềm ở các nơi mạnh mẽ đến mức khiến người ta khó lòng từ chối: đàm phán với chính quyền địa phương, tuyên bố sẽ đầu tư số vốn hơn 100 triệu tệ để xây dựng một công viên phần mềm quy mô tại địa phương, cam kết trong vòng vài năm sẽ thu hút hàng trăm công ty phần mềm, biến nơi đó thành khu công nghệ cao lớn nhất của tỉnh hoặc khu vực đó.

Những điều kiện hợp tác như vậy, cộng thêm "kinh nghiệm thành công" của "Tây bộ Phần mềm viên", hầu như không có quan chức địa phương nào có thể cưỡng lại được sự cám dỗ. Chuyến đi "khoanh vùng chiếm đất" của Tống Như Hoa có thể nói là thuận buồm xuôi gió.

Tháng 8 năm 1999, Thác Phổ tuyên bố đầu tư 100 triệu tệ để xây dựng Đông Bắc Phần mềm viên tại An Sơn; chỉ một tháng sau, Tống Như Hoa đặt quân cờ thứ hai tại quê nhà Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang; sau đó là tại Thường Châu, Nam Kinh, Vô Tích (Giang Tô); Gia Hưng, Kim Hoa, Đài Châu (Chiết Giang); Uy Hải (Sơn Đông) và Nam Hối (Thượng Hải)... các công viên phần mềm Thác Phổ lần lượt được khởi công. Mỗi khi đến một nơi, người đứng đầu chính quyền địa phương nhất định sẽ đến dự lễ khởi công, truyền thông đưa tin rầm rộ, Thác Phổ nghiễm nhiên trở thành "thần lửa" thắp lên nhiệt huyết phát triển công nghiệp công nghệ cao cho các địa phương.

Để quy hoạch công viên phần mềm hoành tráng của mình mang tính quốc tế hơn, Tống Như Hoa thậm chí còn đăng ký một công ty Thác Phổ Quốc tế tại Mỹ, tuyên bố "đã thành lập căn cứ gần Đại học Bang Pennsylvania để phục vụ cho các điểm thử nghiệm phát triển kỹ thuật và chức năng thu mua quốc tế". Tháng 9 năm 2000, Tống Như Hoa đầy trí tưởng tượng đã đệ trình lên Trung tâm Ngọn đuốc thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ quốc gia kế hoạch vĩ đại về việc xây dựng "Dải công nghiệp phần mềm nghìn dặm". Kế hoạch này tuyên bố rằng Tập đoàn Thác Phổ sẽ xây dựng Đông bộ Phần mềm viên tại khu vực Hoa Đông phát triển nhất Trung Quốc, "thông qua hàng chục công ty của Thác Phổ tại Hoa Đông để hình thành khung doanh nghiệp cốt lõi theo mô hình mạng lưới và các điểm tựa chiến lược tại Thượng Hải, Giang Tô, Chiết Giang, Sơn Đông... Công viên phần mềm sẽ thấy rõ hiệu quả trong 1 đến 3 năm, cơ bản hoàn thành trong 4 đến 6 năm, hoàn tất toàn diện trong 6 đến 11 năm, đến cuối năm 2010 đạt tổng đầu tư tích lũy 2,9 tỷ tệ, thúc đẩy kinh tế địa phương đạt 29 tỷ tệ, quy mô phần mềm đạt 2 tỷ tệ mỗi năm, diện tích công viên 2 triệu mét vuông, số lượng nhân viên 3.000 người". Bản quy hoạch mang tính không tưởng này, chỉ 2 tháng sau khi đệ trình, đã được phê duyệt chính thức thành dự án thuộc Chương trình Ngọn đuốc quốc gia.

Cách vận hành cao điệu của Thác Phổ, cộng với sự công nhận sâu sắc từ các cơ quan nhà nước, khiến cuộc chạy đua chiếm đất của Tống Như Hoa tràn đầy sắc thái nhẹ nhàng của một vở hài kịch lớn. Ông ta trở thành "miếng bánh thơm" được các thị trưởng tranh nhau săn đón và là khách quý trên bàn tiệc. Hầu như tất cả các dự án công viên phần mềm đều được liệt vào "công trình số 1" của thị trưởng, chính quyền còn dành cho nó mức giá chuyển nhượng đất đai ưu đãi nhất, thậm chí có nơi sốt sắng còn tặng không cho Thác Phổ. Rõ ràng, đối với một số quan chức địa phương, việc đưa dự án công viên phần mềm của Thác Phổ về địa phương là một công trình thành tích rất đáng tự hào. Chính dưới sự thúc đẩy hợp lực với những toan tính riêng của mỗi bên này, diện tích của các công viên phần mềm Thác Phổ cứ ngày một lớn dần, từ quy mô 50-60 mẫu ở An Sơn, Thiệu Hưng ban đầu, đến Khu công nghiệp thông tin Đài thương ở Gia Hưng đã đạt tới quy mô chưa từng có là 4.500 mẫu. Số vốn đầu tư của Tống Như Hoa cũng tăng theo nước nổi, từ 100 triệu tệ ban đầu lên đến con số 10 tỷ tệ nói khoác sau này. Tống Như Hoa cũng rất hiểu tâm lý ưa chuộng hư danh của các quan chức, vì vậy trong việc định vị và quy hoạch công viên, ông ta đánh mạnh vào "bài toán hình ảnh". Khi xây dựng Đông bộ Phần mềm viên ở Nam Hối, Thượng Hải, ông ta bỗng nảy ra ý tưởng thiết kế nó thành một "bản đồ thế giới": "Năm châu lục" được thiết kế thành các hồ nhân tạo trong công viên, nhà cửa và đường sá đều thiết kế trên "Bốn đại dương", phía đông đắp một gò đất cao trông như đầu hổ, phía tây là một dải đất đắp hình rồng, đặt cho cái tên mỹ miều là "Tàng long ngọa hổ". Kiểu tư duy kết hợp giữa cái "tây" và cái "ta" kỳ quặc này đương nhiên giành được những lời trầm trồ khen ngợi của các quan chức đến tham quan.

Cứ như vậy, trong 4 năm từ 1999 đến 2002, Tống Như Hoa đặt quân cờ như bay, hình thành thế trận lẫy lừng, Thác Phổ đã khởi công xây dựng 27 công viên phần mềm tại hàng chục tỉnh thành trên cả nước, trung bình chưa đầy hai tháng lại xây mới một cái, chiếm dụng diện tích đất hơn 12.000 mẫu. Dựa vào một "khái niệm công viên phần mềm", Tống Như Hoa nghiễm nhiên trở thành địa chủ lớn nhất trong giới doanh nghiệp Trung Quốc.

Thác Phổ xây công viên phần mềm, hễ động đến là tuyên bố đầu tư vài trăm triệu thậm chí hàng chục tỷ tệ. Thực chất, số vốn mà họ bỏ ra không lớn, tất cả đều dựa vào việc "khai thác tiềm năng tại địa phương, tận dụng vốn và tài nguyên địa phương để phát triển theo kiểu lăn cầu tuyết".

Loại hình "khai thác tiềm năng tại địa phương" đầu tiên là giành được sự hỗ trợ vốn từ các ngân hàng địa phương. Các dự án công viên phần mềm của Thác Phổ hầu như đều đi kèm với một bản thỏa thuận tín dụng hợp tác với ngân hàng địa phương. Sau khi Thác Phổ có được đất với giá rẻ hoặc thậm chí miễn phí, họ lập tức thông qua các hình thức như thế chấp hoặc bảo lãnh để rút vốn từ ngân hàng. Việc có vay được vốn ngân hàng hay không trở thành điều kiện tiên quyết để xây dựng công viên phần mềm. Tống Như Hoa từng chỉ thị rõ ràng cho cấp dưới: "Một dự án công viên phần mềm mà đến ngân hàng địa phương còn không huy động được tiền, thì chứng tỏ công tác các mặt đều chưa đạt yêu cầu, vậy thì đừng làm nữa". Chính trong quá trình này, Thác Phổ đã dệt nên một mạng lưới tài chính phức tạp, rối rắm mà người ngoài không thể nào hiểu nổi tại khắp các nơi, trong khi vốn liếng ngày càng phình to, thì cũng đồng thời gieo rắc những hậu họa vô cùng.

Loại thứ hai là giành được các dự án cải tạo phần mềm tại địa phương. Ngay khi ký hợp đồng xây dựng Đông Bắc Phần mềm viên tại An Sơn, Thác Phổ đã tận dụng mối quan hệ thân thiết với chính quyền để nhận được hợp đồng kỹ thuật trị giá gần 200 triệu tệ về màn hình hiển thị sân vận động An Sơn và dự án cải tạo thông tin hóa giáo dục của thành phố. Khi xây dựng công viên ở Thiệu Hưng, Kim Hoa, Đại Khánh... Thác Phổ đều lần lượt nhận được các hợp đồng phát triển phần mềm trị giá hàng chục triệu tệ do chính quyền địa phương ủy thác.

Loại thứ ba là giành được các tài nguyên độc quyền. Năm 2000, Thác Phổ xây dựng công viên phần mềm tại Ninh Hương, Hồ Nam, tuyên bố sẽ đầu tư 1 tỷ tệ trong vòng 5 năm để xây dựng nơi đây thành "căn cứ phần mềm mở" có khả năng sản xuất và phát triển 600.000 bộ phần mềm mỗi năm. Đây trở thành dự án thu hút đầu tư công nghệ cao lớn nhất của Hồ Nam trong năm đó. Với tư cách là "dự án bổ trợ", Thác Phổ đề xuất với chính quyền tỉnh Hồ Nam thành lập Học viện Giáo dục Kỹ thuật Thông tin Thác Phổ Hồ Nam, từ đó thuận đà tiến vào lĩnh vực giáo dục đại học mà vốn tư nhân rất khó tham gia. Mô hình bổ trợ này sau đó được sao chép tại Trường Sa, Thượng Hải, Thành Đô và Thiệu Hưng, Thác Phổ lần lượt xây dựng 4 trường kỹ thuật thông tin, có thời điểm số lượng sinh viên lên tới hơn mười nghìn người.

Chính nhờ những kỹ thuật "tay không bắt giặc" cực kỳ táo bạo này, Tống Như Hoa, người am hiểu sâu sắc đạo lý chính trị và kinh doanh Trung Quốc, đã giành được thành công hết lần này đến lần khác. Tâm thái kinh doanh của ông ta cũng dần lộ ra vẻ hung hăng khó lòng che giấu. Có lần, ông ta nói với bạn bè: "Với danh tiếng hiện nay của Thác Phổ, tôi chỉ cần tuyển 100 sinh viên tốt nghiệp vào trung tâm phát triển công viên phần mềm, dẫn giám đốc ngân hàng đến xem một cái là có thể vay được tiền rồi". Lại có lần, ông ta còn không chút ngượng ngùng truyền đạt kinh nghiệm cho người khác rằng: "Công ty phần mềm rất giống công ty vỏ bọc, ngoài con người ra thì chẳng có gì cả. Nếu bạn chỉ có nửa tầng lầu với vài căn phòng, tín dụng của bạn khi làm phần mềm sẽ không đủ, khách hàng cảm thấy bạn nghèo nàn; còn khi bạn có công viên, đó chính là biểu tượng của thực lực, khách hàng sẽ tự cảm thấy mình mới là kẻ nghèo nàn".

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »