Đại Bại Cục 2

Lượt đọc: 369 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một quân cờ trong ván cờ

❊ ❊ ❊

Khi Đới Quốc Phương hùng hồn tuyên bố muốn "vượt Bảo Cương, đuổi theo Phố Hạng", xung quanh ông thực ra đã bao phủ một lớp sương mù dày đặc. Thế sự như ván cờ, biến hóa khôn lường, còn Đới Quốc Phương chỉ là một quân cờ mải miết cắm đầu xông về phía trước.

Đối với các doanh nhân Trung Quốc, "chính trị là gì" luôn là một câu hỏi hóc búa. Trong nhóm người này, chúng ta thấy quá nhiều kẻ nhiệt tình thái quá, kẻ nhắm mắt làm ngơ, kẻ công khai đối đầu, kẻ ngây ngô không biết gì, nhưng lại hiếm khi thấy người nào biết nắm bắt chừng mực, tiến thoái ung dung.

Cho đến tận lúc vào tù, "vua thép tư nhân" với trình độ học vấn chỉ dừng lại ở bậc tiểu học là Đới Quốc Phương vẫn chưa hiểu rõ vấn đề này, hoặc có lẽ, ông chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Nhìn ra toàn quốc lúc bấy giờ, đang có hai cuộc tranh luận lớn diễn ra sôi nổi, kết luận của chúng sẽ ảnh hưởng cực kỳ lớn đến ván cờ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, còn Đới Quốc Phương dù đang ở trong cuộc biến động ấy lại hoàn toàn không hay biết.

Kể từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, sự phục hồi của kinh tế Trung Quốc là một lịch sử trỗi dậy của các doanh nghiệp tư nhân. Những nhà máy bình dân nằm ngoài hệ thống này, trong tình cảnh không có tài nguyên và nền tảng công nghiệp, đã nảy mầm từ nông thôn, bắt đầu từ các ngành "nhẹ, nhỏ, tập trung, gia công" như dệt may và hàng tiêu dùng nhanh, dần dần hình thành một lực lượng kinh tế hùng mạnh. Đến khoảng năm 2001, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp tư nhân vào nền kinh tế quốc dân đã vượt qua doanh nghiệp nhà nước, sở hữu lượng lớn nhất công nhân và vốn công nghiệp. Ở nhiều ngành, "nhà nước thoái lui, tư nhân tiến vào" đã trở thành một xu hướng. Cũng chính vào thời điểm này, cùng với sự tăng trưởng của các ngành nhu cầu cuối như nhà ở, ô tô, truyền thông điện tử, thị trường đã hình thành nhu cầu khổng lồ đối với các ngành năng lượng thượng nguồn như thép, kim loại màu, điện lực, than đá... Cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc đã xảy ra sự điều chỉnh tất yếu từ nhẹ sang nặng. Các doanh nhân tư nhân vốn nhạy bén chắc chắn đã nhận ra bước chuyển mình quan trọng này. Những doanh nhân đã hoàn thành tích lũy nguyên thủy bắt đầu ồ ạt tiến vào các ngành thượng nguồn vốn luôn bị coi là "miếng ngon" của doanh nghiệp nhà nước. Trong nhóm này, Đới Quốc Phương có lẽ là người có độ nhận diện thấp nhất. Khi ông đang ôm mộng làm thép bên bờ sông Trường Giang, thì Quách Quảng Xương của tập đoàn Phục Tinh Thượng Hải đang mưu tính xây dựng một nhà máy thép quy mô tương đương tại Ninh Ba, Chiết Giang; còn Lưu Vĩnh Hành của tập đoàn Hy Vọng Tứ Xuyên nổi tiếng thì đang khẩn trương chuẩn bị cho một dự án nhôm điện phân đầu tư hơn 10 tỷ tệ tại Nội Mông.

Trước cảnh tượng sôi động này, giới kinh tế và truyền thông có những quan điểm khác biệt. Có người cho rằng, ngành thượng nguồn là ngành trụ cột của kinh tế quốc dân, nên để doanh nghiệp nhà nước đóng vai chính, không nên để doanh nghiệp tư nhân vào sân làm loạn. Thậm chí có chuyên gia kinh tế còn cho rằng, những ngành này hoàn toàn không thể thị trường hóa, nên để nhà nước độc quyền kinh doanh. Một quan điểm khác lại tung hô điều này. Tạp chí "Doanh nhân Trung Quốc" trong một bài bình luận đã viết đầy nhiệt huyết: Khi người ta thấy việc nâng cấp của doanh nghiệp tư nhân và quá trình công nghiệp hóa kiểu mới của Trung Quốc đang kết nối đúng lúc, khi "tinh thần doanh nhân" và vốn tư nhân cùng được đổ vào ngành công nghiệp nặng của Trung Quốc, người ta không còn nghi ngờ gì nữa:

Các doanh nghiệp tư nhân đang cày xới trong lĩnh vực công nghiệp nặng sẽ làm mới lại đội ngũ mạnh nhất của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc trong vài năm tới; phong trào công nghiệp mới với động lực chính là sức mạnh thị trường này sẽ sinh ra lứa đại gia công nghiệp nặng đầu tiên của Trung Quốc, những người không xuất thân từ quan trường, không được chính phủ bổ nhiệm, mà chỉ luận công tội dựa trên thị trường.

Cuộc tranh luận thứ hai liên quan chặt chẽ đến điều này là: Rốt cuộc Trung Quốc có nên đi theo con đường nặng hóa hay không? Nhân vật chính của cuộc tranh luận này là hai chuyên gia kinh tế lão làng trong nước - Giáo sư Lệ Dĩ Ninh và Giáo sư Ngô Kính Liên. Giáo sư Lệ cho rằng, từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20, sau khi trải qua sự phát triển tốc độ cao của công nghiệp nhẹ, quá trình "công nghiệp hóa nặng lần thứ hai" của Trung Quốc bắt đầu lộ diện. Trong đó vừa có quy luật khách quan "từ nhẹ sang nặng" phát huy tác dụng, vừa thể hiện nhu cầu to lớn đối với việc đổi mới và cải tạo thiết bị của bản thân sự phát triển công nghiệp. Do đó, từ chính phủ đến doanh nghiệp, đều nên thuận theo xu hướng này trong bố cục chiến lược và đổi mới kỹ thuật.

Ngô Kính Liên lại đưa ra ý kiến phản đối luận điểm "giai đoạn nặng hóa ở Trung Quốc là không thể vượt qua" của Lệ Dĩ Ninh. Ông cho rằng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch sang công nghiệp nặng, lực lượng chủ chốt thực ra không phải là chính phủ trung ương mà là chính phủ địa phương. Có hai nguyên nhân: Thứ nhất, với tư cách là chủ thể điều chỉnh, thu nhập tài chính và đánh giá thành tích khiến chính phủ tất yếu phải làm công nghiệp nặng hóa có giá trị sản lượng lớn, thuế cao; thứ hai, chính phủ cũng có khả năng phát triển công nghiệp nặng vì họ nắm giữ hai nguồn lực lớn nhất là đất đai và quyền vay vốn. Giáo sư Ngô cho rằng, điều chỉnh cơ cấu công nghiệp nên phát huy sức mạnh thị trường, hiện nay chính phủ ồ ạt đầu tư, ồ ạt tham gia là không đúng. Hơn nữa, giai đoạn này Trung Quốc không nên chọn con đường nặng hóa mà phải dựa vào phát triển ngành dịch vụ và doanh nghiệp nhỏ.

Sự đối lập quan điểm giữa Lệ Dĩ Ninh và Ngô Kính Liên liên quan đến lộ trình tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, cũng có ý nghĩa tham chiếu vĩ mô cho việc đánh giá sự kiện Thiết Bản sau này.

Khi Đới Quốc Phương đang vô cùng phấn khích với giấc mơ thép bên bờ sông Trường Giang ở Thường Châu, giới kinh tế và truyền thông Trung Quốc đang triển khai hai cuộc thảo luận có liên quan mật thiết đến ông. Tiếc rằng ông không có thời gian để quan tâm đến những "tranh luận thư sinh" khô khan này. Ngày thường ông rất ít đọc sách báo, một chuyên gia Bắc Kinh quen biết từng mang bài báo trên tạp chí "Doanh nhân Trung Quốc" đến cho ông xem. Vị chuyên gia cuối cùng nói: "Nếu dự án của anh thành công, anh chắc chắn sẽ là người giàu nhất Trung Quốc."

Đới Quốc Phương đang bận rộn trên công trường cười khà khà. Ông không nghe ra những ẩn ý sâu xa ẩn giấu trong hai chữ "nếu như".

Câu nói "vượt Bảo Cương" của Đới Quốc Phương, trong tai một số người lại mang một hương vị khác lạ.

Thép, đối với một quốc gia hiện đại, từng có nghĩa là tất cả. Kể từ sau cách mạng công nghiệp, năng lực sản xuất thép của một quốc gia gần như là biểu tượng cho sự cường thịnh của quốc lực. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cuộc đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô thực chất là một cuộc đua về thép trong thời gian dài. Lãnh đạo Liên Xô Stalin đã đưa ra khẩu hiệu "Thép là tất cả", còn Mỹ cũng không tiếc công sức đầu tư vào ngành công nghiệp thép, trong rất nhiều năm, họ luôn là quốc gia sản xuất thép số một thế giới.

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Mao Trạch Đông cũng đặc biệt ưu ái ngành thép. Sau khi quan sát đại thế thiên hạ, ông luôn coi thép là chỉ số quan trọng nhất và tôn vinh nó là "Nguyên soái thép". Chính dựa trên tình cảm sâu đậm với thép như vậy, Mao Trạch Đông đã đề ra chiến lược quốc gia "lấy thép làm cương lĩnh". Năm 1959, ông đề xuất "đuổi theo Anh, không phải 15 năm, cũng không phải 7 năm, chỉ cần 2 đến 3 năm, 2 năm là có thể. Ở đây chủ yếu là thép." Dưới mục tiêu đuổi theo này, ông đã phát động "Đại nhảy vọt", triển khai phong trào luyện thép toàn dân sôi nổi trên phạm vi cả nước.

Năm 1978, Trung Quốc mở ra bức màn mới cho cải cách mở cửa, quốc môn rộng mở, trăm nghề hưng thịnh, dự án lớn đầu tiên được đưa vào Trung Quốc chính là nhà máy thép Bảo Sơn ở Thượng Hải. Từ ngày 18 đến 22 tháng 12 năm đó, một trong những hội nghị quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc đương đại - Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã diễn ra tại Bắc Kinh. Chủ đề trung tâm của hội nghị là thảo luận về việc chuyển trọng tâm công tác của toàn Đảng sang xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Ngay sau khi hội nghị kết thúc hai ngày, công ty Bảo Cương với tổng vốn đầu tư 21,4 tỷ tệ đã đóng cọc đầu tiên trên một bãi biển ở ngoại ô phía bắc Thượng Hải. Nó được dư luận trong và ngoài nước coi là một công trình mang tính biểu tượng. Trong gần 30 năm, ngành thép Trung Quốc luôn ở trong giai đoạn bành trướng nhanh chóng, sản lượng tăng trưởng bình quân hàng năm vượt quá 20%. Năm 1992, sản lượng thép của Trung Quốc lần đầu tiên vượt Mỹ, vươn lên đứng đầu thế giới.

Sau năm 2001, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tăng tốc đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt thép toàn diện, Trung Quốc lại dấy lên cơn sốt luyện thép. Các công ty thép nhà nước lớn lần lượt tuyên bố đổ số tiền khổng lồ để khởi công dự án mới, các nhà máy thép vừa và nhỏ ở địa phương càng mọc lên như nấm sau mưa. Ngành thép vốn là ngành đầu tư khổng lồ, thu hồi vốn dài hạn, nhưng dưới sự thúc đẩy của nhu cầu mạnh mẽ, nó lại trở thành một ngành siêu lợi nhuận có thể đầu cơ ngắn hạn. Ở vùng đồng bằng sông Trường Giang lưu truyền câu nói "năm con số một": "1 tấn thép chỉ cần đầu tư 1000 vạn tệ, công suất 1 triệu tấn chỉ cần 1 năm là xây xong, 1 năm là có thể thu hồi vốn". Hiệu quả đầu tư - sản xuất điên rồ này nghe như truyền thuyết đối với người ngoài ngành, ngay cả những doanh nhân trong ngành bất động sản vốn được coi là ngành siêu lợi nhuận cũng cảm thấy khó tin. Vương Thạch, người đứng đầu Vạn Khoa Địa ốc, đã viết trên blog của mình: "Xin hỏi các doanh nhân, khi các anh làm dệt may và sản xuất thông thường, các anh mất bao nhiêu năm mới thu hồi vốn? Bây giờ đầu tư công nghiệp nặng lại đề xuất thu hồi trong 1 năm, đó không phải là đầu cơ thì là gì?"

Dữ liệu cho thấy, khoảng năm 2002, số lượng doanh nghiệp luyện thép trên cả nước đã tăng từ 114 doanh nghiệp của những năm 80 lên hơn 260 doanh nghiệp, quy mô bình quân chưa đầy 700.000 tấn/năm, trong đó hơn 200 doanh nghiệp có quy mô bình quân chưa đến 100.000 tấn/năm. Vấn đề "phân tán, hỗn loạn, nhỏ lẻ" rất nổi cộm. Năm 2002, tổng vốn đầu tư của ngành thép cả nước là 71 tỷ tệ, tăng 45,9% so với năm trước. Năm 2003, con số này đạt 132,9 tỷ tệ, đầu tư tăng 96% so với cùng kỳ. Tương tự như ngành thép, đầu tư vào nhôm điện phân tăng 92,9%, đầu tư xi măng tăng 121,9%. Đầu tư vĩ mô quá nóng dần trở thành sự đồng thuận của giới hoạch định chính sách. Cuối năm 2003, cánh cửa điều tiết vĩ mô cuối cùng cũng đóng lại. Ngày 23 tháng 12, Văn phòng Quốc vụ viện ban hành văn bản số 103 [2003], tức "Thông báo của Văn phòng Quốc vụ viện chuyển ý kiến của Ủy ban Cải cách và Phát triển cùng các bộ ngành về việc ngăn chặn đầu tư mù quáng trong các ngành thép, nhôm điện phân, xi măng", yêu cầu các địa phương sử dụng nhiều biện pháp để nhanh chóng kiềm chế đà đầu tư mù quáng và xây dựng trùng lặp trình độ thấp. Tháng 1 năm sau, tiếp tục ban hành văn bản "Thông báo của Văn phòng Quốc vụ viện về việc triển khai kiểm tra chuyên đề tình hình quán triệt thực hiện tinh thần Hội nghị công tác kinh tế Trung ương". Ngày 4 tháng 2, Quốc vụ viện tổ chức hội nghị truyền hình trực tuyến đặc biệt về kiểm soát chặt chẽ đầu tư quá mức trong một số ngành, yêu cầu rõ ràng phải thanh tra, kiểm tra ba ngành thép, nhôm điện phân, xi măng. Quốc vụ viện ngay sau đó đã tổ chức nhân sự từ Kiểm toán quốc gia, Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia, Bộ Tài chính, Bộ Đất đai và Tài nguyên, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc... thành lập 8 đoàn kiểm tra đi khắp các địa phương để thanh tra. Trọng tâm thanh tra chính là những doanh nghiệp tư nhân "đầu tư mù quáng" đã gia nhập ba ngành này.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »