Ngoài những quân bài chủ lực, triều Hán hiện vẫn đang nắm giữ nhiều quân bài tốt có thể tung ra. Trong đó bao gồm cả muối và trà.
Ngay từ đầu năm ngoái, khi cuộc chiến Yên - Kế kết thúc, lúc Hạ Nghĩa đi tới Long Thành, Lưu Triệt đã ra lệnh cho Trung Dũng quân và Lâu Phiền quân kiểm soát hoàn toàn những khu vực sản xuất muối ăn nổi tiếng ở vùng Mạc Nam.
Thảo nguyên phương Bắc vốn dĩ rất thiếu muối. Hiện tại, vài mỏ muối hiếm hoi còn lại đều nằm trong tay triều Hán. Họ muốn ăn muối thì phải đến Long Thành mà mua. Muối là thứ mà dù đối với người chăn nuôi hay gia súc của họ, đều là nguồn sống. Không có muối, người và vật đều sẽ sinh bệnh!
Còn về trà... Bất cứ ai quen thuộc với tập quán sinh hoạt của các dân tộc du mục đều hiểu rõ tầm quan trọng của loại đồ uống thần kỳ này đối với họ. Không có trà để uống, người chăn nuôi có lẽ sẽ không chết, nhưng chắc chắn sẽ rất khó chịu!
Kiểm soát được muối và trà, cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ điểm yếu của rất nhiều bộ tộc. Ngoài ra, kê, lúa mì và các loại rượu do Trung Quốc sản xuất cũng là những mặt hàng mà triều Hán hiện có thể dùng để gây ảnh hưởng lên các bộ tộc vùng Mạc Nam. Còn về nồi sắt, thứ hàng xa xỉ này, từ năm Nguyên Đức thứ ba đã luôn được các bộ tộc Hung Nô săn đón. Lưu Triệt từng nghe nói, sở hữu một chiếc nồi sắt, một con dao thái rau, trong các bộ tộc Hung Nô chính là biểu tượng của thân phận.
Nghĩ đến đây, Lưu Triệt gõ gõ lên án kỷ: "Có lẽ còn có thể thêm vào tiền Ngũ Thù..."
Tiền Ngũ Thù do triều Hán đúc ra, nhờ vẻ ngoài tinh xảo, trọng lượng vừa phải, đồng thời hàm lượng đồng rất cao, nên không chỉ được thần dân nhà Hán săn đón và tin dùng, mà ngay cả ở Tam Việt và vùng Tây Nam Di cũng trở thành một trào lưu. Còn về phía Hung Nô, Lưu Triệt cũng từng nghe kể về câu chuyện một bộ tộc Hung Nô khi giao thương tại thị trường nhà Hán đã nhất quyết đòi phải dùng tiền Ngũ Thù.
Trong lặng lẽ, tiền Ngũ Thù giống như một cơn bão quét qua thế giới. Chỉ trong vòng tám chín năm ngắn ngủi, nó đã chiếm giữ ngôi vị quán quân về tiền tệ tín dụng. Đáng tiếc, quy mô lưu thông của tiền Ngũ Thù vẫn luôn là một vấn đề lớn. Thực tế Trung Quốc thiếu đồng trầm trọng khiến sản lượng đồng mỗi năm không thể bắt kịp tốc độ phát hành tiền tệ. Năm ngoái, sản lượng thỏi đồng thậm chí không bằng hai phần mười lượng tiền mới phát hành! Điều này thật sự quá khó xử. Thiếu phủ vì chuyện đúc tiền mà gần như phát điên. Nếu không nhờ những gói quà lớn từ năm vị vương tề lỗ và các nhóm quan lại ở Trường An, e rằng hiện tại, Thiếu phủ khanh Lưu Xá đã hóa điên rồi.
"Tiếp tục tăng lượng đúc tiền Ngũ Thù vàng đi..." Lưu Triệt tính toán trong lòng.
Tiền Ngũ Thù vàng kể từ khi ra đời vào năm Nguyên Đức thứ tư đã trải qua một con đường gập ghềnh gian nan. Khác với tiền Ngũ Thù đồng, Trung Quốc từ xưa tới nay chưa từng có tiền tệ lưu thông bằng vàng bạc. Vàng trong suốt ngàn năm qua luôn được coi là kim loại quý chứ không phải là vật ngang giá chung. Hai triều Tần Hán dù bắt đầu coi trọng vai trò của vàng, nhưng phạm vi lưu thông của nó vẫn luôn bị giới hạn trong giới quý tộc sĩ đại phu.
Mãi cho đến sau trận Mã Ấp, Thiếu phủ đã đúc đợt đầu tiên một triệu đồng tiền Ngũ Thù vàng để làm phần thưởng cho các tướng sĩ. Lưu Triệt vốn tưởng rằng đây sẽ là một khởi đầu tốt, đặt nền móng cho việc lưu thông tiền vàng. Nhưng nào ngờ, ông suýt chút nữa tự lấy đá đập chân mình. Đại đa số binh sĩ và sĩ quan sau khi nhận được tiền Ngũ Thù vàng đã không đem ra tiêu dùng, mà lại giống như những tên địa chủ keo kiệt, đào một cái hố rồi giấu những "em bé" màu vàng óng ánh này đi. Hơn nữa, suy nghĩ của đa số mọi người đều là sau này khi mình chết đi, sẽ để con cháu dùng những đồng tiền Ngũ Thù vàng này làm vật bồi táng mang theo vào trong quan tài...
Điều này thật sự khiến Lưu Triệt tức đến mức suýt hộc máu. Ông đã vắt óc suy nghĩ, tìm đủ mọi cách để chắt chiu từng chút vàng từ tay các liệt hầu đại thần với ý định làm quỹ dự trữ cho tiền tệ bản vị vàng trong tương lai, kết quả cuối cùng vẫn không thoát khỏi số phận làm đồ bồi táng...
Lúc đó, Lưu Triệt gần như muốn từ bỏ ý định tiếp tục phát hành tiền Ngũ Thù vàng. May mà ông đã cắn răng kiên trì đến cùng, hơn nữa còn không ngừng mở rộng và tăng lượng phát hành. Năm Nguyên Đức thứ tư, suốt cả năm, triều Hán chỉ đúc một triệu đồng tiền Ngũ Thù vàng, tiêu tốn khoảng tám nghìn cân vàng (về lý thuyết, một cân vàng chỉ có thể đúc chín mươi sáu đồng tiền Ngũ Thù, thậm chí có thể ít hơn, nhưng Thiếu phủ trong quá trình đúc đã vắt óc pha tạp chất vào trong, thực tế tiền Ngũ Thù vàng hiện nay chứa khoảng ba phần mười là tạp chất). Năm Nguyên Đức thứ năm, để chi trả tiền thưởng cho trận Cao Khuyết, Thiếu phủ lại đúc thêm hơn hai triệu đồng tiền Ngũ Thù vàng, cộng thêm việc năm đó lượng tiền Ngũ Thù đồng giảm sút, để trả lương, Lưu Triệt đã chỉ thị Thiếu phủ đúc thêm hai triệu đồng tiền Ngũ Thù vàng để phát lương cho quan lại. Năm Nguyên Đức thứ sáu, lượng đúc tiền Ngũ Thù vàng của Thiếu phủ đã đạt tới con số sáu triệu chưa từng có! Mà năm nay mới trôi qua mười tháng, lượng đúc tiền Ngũ Thù vàng đã đạt tới bảy triệu!
Lượng lưu thông tiền Ngũ Thù vàng khổng lồ cuối cùng đã khiến loại tiền tệ cao cấp này có đủ thị trường và điều kiện lưu thông. Ít nhất là ở Trường An và Lạc Dương, các thương nhân đã bắt đầu sử dụng tiền Ngũ Thù vàng trong các giao dịch hàng ngày. Người dân cũng từ đó mà tiếp xúc với loại tiền vàng này, bắt đầu chấp nhận và vui vẻ sử dụng. Đến đây, chiến lược bản vị vàng của triều Hán cuối cùng đã bước những bước đi vững chắc đầu tiên.
"Tiếp theo, chính là việc khai thác mỏ vàng ở Japan..." Lưu Triệt tính toán kế hoạch trong lòng. Đối với triều Hán hiện tại, giá trị sử dụng duy nhất của quần đảo Japan có lẽ chính là những kim loại quý nằm sâu dưới lòng đất được đưa lên bề mặt do núi lửa phun trào, động đất và nhiều nguyên nhân khác. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên vàng ở Japan khiến Lưu Triệt mãi không thể đưa ra quyết định cuối cùng. Bởi vì ông hiểu rất rõ, vàng của Japan tuy đáng yêu, nhưng trong nguồn nước sông ngòi ở đó lại tiềm ẩn một con quỷ dữ - sán máng!
Thực tế, sán máng ở triều Hán hiện nay chính là do không biết ai đó mang từ Japan về. Khảo cổ học đời sau chứng minh rằng trước thời đầu Hán, Trung Quốc vốn không có bệnh sán máng. Một ngày nào đó sau thời đầu Hán, đột nhiên bệnh sán máng xuất hiện. Vài chục năm sau đó, loại ký sinh trùng đáng sợ này sinh sôi nhanh chóng, chiếm cứ mạng lưới sông ngòi rộng lớn ở vùng Ngô Việt và không ngừng lan rộng theo các hoạt động của con người. May mắn là Lưu Triệt phát hiện kịp thời, đã ra lệnh cho những vùng trọng điểm dịch bệnh như Hội Kê và Giang Đô bắt đầu tiêu diệt và kiểm soát loại ký sinh trùng đáng sợ này. Phong trào trồng cây giáp trúc đào rầm rộ được triển khai mạnh mẽ. Hàng vạn cây giáp trúc đào được trồng đầy trên các bờ ruộng, ao hồ, sông suối. Mỗi độ hè thu, lá và quả của cây giáp trúc đào rụng xuống nước đã tiêu diệt một lượng lớn ốc đinh. Căn bệnh đáng sợ này bắt đầu được kiểm soát bước đầu. Nhưng để tiêu diệt hoàn toàn thì cần kỹ thuật y học phát triển hơn nữa, ít nhất cũng phải nghiên cứu ra loại thuốc đặc trị cho loại ký sinh trùng này và vật chủ của chúng. Lưu Triệt không muốn công sức vất vả mới hạn chế được bệnh sán máng lại đổ sông đổ biển chỉ vì chút vàng bạc. Điều này thật sự không đáng chút nào!