Ngày 13 tháng 10, thứ Tư. 9 giờ 33 phút sáng.
Hoffman và Evans ngồi trên một chiếc ghế dài đối diện sảnh hội nghị, phía xa là lối vào sảnh chính đang chật cứng đám đông chen lấn, xô đẩy. Một khung cảnh thật sự hỗn loạn! Thế nhưng, Hoffman dường như không hề bận tâm đến mọi thứ xung quanh. Ông thao thao bất tuyệt, tràn đầy năng lượng, đôi tay vung vẩy liên hồi, đôi lúc vỗ mạnh vào ngực Evans mà bản thân cũng không hề hay biết.
"Mười năm trước, tôi bắt đầu nghiên cứu về thời trang và tiếng lóng," ông nói, "tất nhiên, thứ sau là một dạng thời trang ngôn ngữ. Tôi muốn làm rõ các yếu tố quyết định sự thay đổi của thời trang và ngôn ngữ. Nhưng rất nhanh sau đó, tôi nhận ra chẳng hề có bất kỳ yếu tố quyết định nào có thể xác định được. Tuy sự thay đổi của thời trang có quy luật của nó — tính tuần hoàn, tính chu kỳ và tính tương quan — nhưng cũng tồn tại những nguyên nhân ngẫu nhiên. Đây chỉ là những mô tả chứ không phải giải thích. Cậu có đang nghe tôi nói không đấy?"
"Tôi đang nghe," Evans đáp lời đầy tán đồng.
"Trong mọi trường hợp, tôi cho rằng tính chu kỳ và tính tương quan có thể được xem là hệ thống nội tại của chúng. Hoặc nếu cậu muốn, có thể gọi đó là hệ sinh thái. Tôi đã kiểm chứng giả thuyết này và nhận thấy nó có giá trị khai phá rất lớn. Cũng giống như sinh thái học tồn tại trong rừng rậm, núi cao hay đại dương của tự nhiên, trong thế giới trừu tượng của tinh thần, quan niệm và tư tưởng con người cũng có một hệ sinh thái tương tự. Đó chính là đề tài nghiên cứu của tôi."
"Tôi hiểu rồi."
"Trong văn hóa hiện đại, một quan niệm có lúc thịnh lúc suy. Đã từng có thời điểm, tất cả mọi người đều tin vào một quan điểm nào đó, nhưng dần dần, họ không còn tin nữa. Đến cuối cùng, thậm chí chẳng còn ai nhớ đến quan niệm cũ ấy, giống như chẳng ai nhớ đến những từ lóng đã lỗi thời. Cậu biết không, tư tưởng bản thân nó cũng là một dạng thời trang."
"Tôi hiểu, nhưng thưa giáo sư, tại sao..."
"Cậu muốn biết tại sao quan niệm cũng có thể lỗi thời phải không?" Hoffman nói, dường như đang tự nhủ với chính mình, "Câu trả lời rất đơn giản — quan niệm quả thực sẽ lỗi thời. Thời trang, cũng như sinh thái học, luôn bị phá vỡ bởi những điều chỉnh lớn đối với trật tự đã được thiết lập. Một tia sét có thể thiêu rụi cả cánh rừng lớn. Những loài sinh vật khác nhau sẽ trỗi dậy từ vùng đất cháy sém. Những thay đổi bất ngờ, ngẫu nhiên, không lường trước được, đó chính là dáng vẻ của thế giới đang hiện ra trước mắt chúng ta."
"Giáo sư..."
"Nhưng cũng như quan niệm có thể thay đổi trong chớp mắt, nó cũng sẽ lắng đọng theo thời gian. Một số quan niệm dù đã bị các nhà khoa học vứt bỏ từ lâu, nhưng vẫn được công chúng chấp nhận. Quan điểm về não trái và não phải là một ví dụ điển hình. Những năm 1970, Sperry tại Viện Công nghệ California đã nghiên cứu một nhóm bệnh nhân đặc biệt từng phẫu thuật não, kết quả phát hiện não bộ có thể phân chia thành não trái và não phải, từ đó quan điểm này trở nên phổ biến. Thực tế, phát hiện của ông chỉ giới hạn ở những bệnh nhân đó, không có ý nghĩa phổ quát. Bản thân Sperry cũng phủ nhận những ý nghĩa khác. Đến những năm 80, người ta đã hiểu rất rõ rằng quan điểm về não trái và não phải là sai lầm — não trái và não phải của một người bình thường không hề vận hành độc lập. Thế nhưng trong văn hóa đại chúng, hai mươi năm đã trôi qua, quan niệm này vẫn chưa biến mất. Dù các nhà khoa học đã gạt nó sang một bên từ nhiều thập kỷ trước, người ta vẫn cứ bàn tán, tin tưởng và viết sách luận bàn về nó."
"Vâng, rất thú vị..."
"Tương tự, trong tư tưởng bảo vệ môi trường, những năm 1960, một khái niệm gọi là 'cân bằng tự nhiên' đã được chấp nhận rộng rãi. Nếu cậu không can thiệp vào tự nhiên, nó sẽ ở trạng thái tự duy trì cân bằng. Quan niệm đáng yêu này có nguồn gốc rất sâu xa. Ba ngàn năm trước, người Hy Lạp đã nghĩ như vậy, dù chẳng có bất cứ căn cứ nào. Chỉ đơn giản là cảm thấy quan điểm này có vẻ hay. Tuy nhiên, đến những năm 90, không còn nhà khoa học nào tin vào cân bằng tự nhiên nữa. Các nhà sinh thái học cũng vì nó sai lầm mà vứt bỏ không bàn tới. Đây là một tư tưởng không chính xác, là một ảo tưởng. Ngày nay họ nói về sự mất cân bằng động và các trạng thái cân bằng đa dạng. Họ hiểu rằng tự nhiên không bao giờ cân bằng. Trước đây không, sau này cũng không. Ngược lại, tự nhiên luôn ở trạng thái mất cân bằng, nghĩa là..."
"Giáo sư," Evans nói, "tôi muốn thỉnh giáo ông..."
"Nghĩa là con người, trước đây từng bị định nghĩa là kẻ phá hoại trật tự tự nhiên lớn nhất, thực chất hoàn toàn không phải như vậy. Toàn bộ môi trường luôn luôn phải chịu đựng đủ loại phá hoại."
"Nhưng George Morton..."
"Đúng, đúng, cậu muốn biết tôi và George Morton đã thảo luận những gì. Tôi đang định nói đến điểm đó, chúng ta không hề lạc đề. Tất nhiên, Morton muốn biết quan điểm về môi trường, đặc biệt là về khủng hoảng môi trường."
"Ông đã nói gì với ông ấy?"
"Nếu cậu nghiên cứu phương tiện truyền thông đại chúng như tôi và các nghiên cứu sinh của mình, nhìn vào sự thay đổi của các khái niệm tiêu chuẩn, cậu sẽ phát hiện ra những điều vô cùng thú vị. Chúng tôi đã xem các bản sao chương trình tin tức của các đài truyền hình lớn — NBC, ABC, CBS. Chúng tôi cũng đọc tin tức trên báo chí tại New York, Washington, Miami, Los Angeles và Seattle. Chúng tôi đã tính toán tần suất sử dụng các khái niệm và thuật ngữ nhất định của những phương tiện truyền thông này, kết quả thật sự gây sốc." Ông dừng lại.
"Các ông đã phát hiện ra điều gì?" Evans tiếp lời ông.
"Mùa thu năm 1989 đã xảy ra một thay đổi trọng đại. Trước đó, truyền thông không hề lạm dụng các thuật ngữ như khủng hoảng, thảm họa, lũ lụt, dịch bệnh hay tai ương. Ví dụ, trong những năm 1980, tần suất xuất hiện của từ 'khủng hoảng' trong các bản tin chỉ ngang bằng với từ 'ngân sách'. Ngoài ra, trước năm 1989, những tính từ như tồi tệ, chưa từng có, sợ hãi cũng không thường xuyên xuất hiện trên các bản tin truyền hình hay tiêu đề báo chí. Nhưng sau đó, mọi thứ đều thay đổi."
"Thay đổi như thế nào?"
"Những thuật ngữ này bắt đầu xuất hiện ngày càng dày đặc. Năm 1995, số lần sử dụng từ 'thảm họa' cao gấp năm lần năm 1985. Đến năm 2000 đã gấp mười lần. Hơn nữa, các bản tin cũng thay đổi. Nhấn mạnh hơn vào các cảm xúc như sợ hãi, lo lắng, nguy hiểm, nghi ngờ, hoảng loạn."
"Tại sao lại bắt đầu thay đổi từ năm 1989?"
"À, câu hỏi hay lắm. Một câu hỏi mang tính phê phán. Ở nhiều khía cạnh, 1989 dường như là một năm rất bình thường: tàu ngầm Liên Xô chìm ở Na Uy; sự kiện tàu chở dầu Exxon Valdez; Salman Rushdie bị kết án tử hình; sự ly hôn của Jane Fonda, Mike Tyson và Bruce Springsteen; Giáo hội Anh giáo Mỹ thuê một nữ giám mục; Ba Lan công nhận Công đoàn Đoàn kết; tàu Voyager bay qua sao Hải Vương; trận động đất ở San Francisco san phẳng đường cao tốc; Nga, Mỹ, Pháp và Anh đều đang tiến hành thử nghiệm hạt nhân. Năm nay không có gì khác biệt so với quá khứ. Nhưng chính xác mà nói, từ 'khủng hoảng' bắt đầu được sử dụng rộng rãi là vào mùa thu năm 1989. Sự trùng hợp về thời gian với sự sụp đổ của Bức tường Berlin thật khó tin. Bức tường Berlin sụp đổ vào ngày 9 tháng 11 năm đó."
Hoffman lại chìm vào im lặng, nhìn Evans đầy ẩn ý, có chút đắc thắng.
Evans nói: "Xin lỗi giáo sư, tôi vẫn không hiểu lắm."
"Chúng tôi cũng không hiểu. Ban đầu chúng tôi cũng cho rằng mối liên hệ này rất khiên cưỡng, nhưng sự thật chính là như vậy. Sự sụp đổ của Bức tường Berlin đánh dấu sự tan rã của đế chế Xô Viết, và sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài nửa thế kỷ ở phương Tây."
Lại một khoảng lặng. Lại ánh mắt đắc thắng ấy.
"Xin lỗi," Evans nói cuối cùng, "lúc đó tôi mới mười ba tuổi..." Anh nhún vai, "Tôi không biết ông muốn nói gì."
"Peter, điều tôi muốn nói là khái niệm kiểm soát xã hội. Mỗi quốc gia có chủ quyền đều cần kiểm soát hành vi của công dân mình. Khiến họ trở nên trật tự, lý trí và phục tùng. Khiến họ lái xe phải đi bên phải — hoặc bên trái, tùy tình hình. Còn bắt họ nộp thuế nữa. Tất nhiên, chúng ta biết cách kiểm soát xã hội tốt nhất chính là đe dọa."
"Đe dọa?" Evans hỏi.
"Đúng vậy. Năm mươi năm qua, các quốc gia phương Tây luôn đặt công dân của mình vào trạng thái sợ hãi liên tục. Sợ đối thủ. Sợ chiến tranh hạt nhân. Chính trị Bức màn sắt. Đế chế tà ác. Đột nhiên, vào mùa thu năm 1989, mọi thứ kết thúc. Xa rời, biến mất! Hết rồi! Sự sụp đổ của Bức tường Berlin tạo ra một khoảng trống đáng sợ. Tự nhiên ghét khoảng trống. Phải có thứ gì đó lấp đầy nó."
Evans nhíu mày: "Ý ông là khủng hoảng môi trường đã thay thế Chiến tranh Lạnh?"
"Bằng chứng chỉ ra chính vấn đề này. Tất nhiên, hiện nay chúng ta còn có những kẻ cực đoan tôn giáo và chủ nghĩa khủng bố sau sự kiện 9.11 khiến chúng ta sợ hãi. Không nghi ngờ gì, đây đều là những nguyên nhân thực sự gây ra sợ hãi, nhưng đó không phải là điều tôi muốn nói. Điều tôi muốn nói là, nỗi sợ luôn có nguyên nhân. Nguyên nhân sẽ thay đổi theo thời gian, nhưng nỗi sợ sẽ mãi mãi đồng hành cùng chúng ta. Trước chủ nghĩa khủng bố, thứ chúng ta sợ là môi trường độc hại. Ý tôi là, mặc dù nguyên nhân cụ thể của nỗi sợ sẽ thay đổi theo thời gian, nhưng chúng ta sẽ mãi mãi sống trong sợ hãi. Nỗi sợ tràn ngập mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Mãi mãi là như vậy."
Ông ngồi trên băng ghế xi măng, lúc này xoay người lại, tầm mắt rời khỏi đám đông kia.
"Cậu không thấy văn hóa của xã hội phương Tây rất kỳ lạ sao? Các nước công nghiệp hóa đã cung cấp cho công dân của họ sự đảm bảo cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và thoải mái chưa từng có. Thế kỷ trước, tuổi thọ trung bình của con người đã tăng 50%. Thế nhưng con người lại luôn sống trong lo âu. Họ sợ người lạ, sợ bệnh tật, sợ tội phạm, sợ môi trường. Họ sợ ngôi nhà mình ở, thực phẩm mình ăn, và các loại công nghệ xung quanh mình. Đối với những thứ vô hình, họ đặc biệt hoảng sợ — là hoảng loạn tột độ — vi khuẩn, hóa chất, chất phụ gia, và cả chất ô nhiễm. Họ nhút nhát, căng thẳng, cáu kỉnh, thất vọng. Hơn thế nữa, họ tin rằng môi trường toàn cầu đang bị phá hủy. Thật không thể tin nổi! Như bị bùa chú ám ảnh, đây là một ảo giác kỳ quái — giống hệt như những ảo tưởng về thế giới thời Trung cổ. Ngày tận thế sắp đến, tất cả chúng ta phải sống trong sợ hãi. Thật đáng kinh ngạc. Thế giới quan này đã được nhồi nhét vào đầu mọi người như thế nào? Bởi vì mặc dù chúng ta cho rằng mình sống ở các quốc gia khác nhau — Pháp, Đức, Nhật Bản, Mỹ — nhưng thực tế, chúng ta đang sống trong cùng một trạng thái, trạng thái sợ hãi. Tất cả những điều này được tạo ra như thế nào?"
Evans không nói gì. Anh biết nói gì cũng vô ích.
"Để tôi nói cho cậu nghe," ông nói, "quá khứ — Peter, trước khi cậu ra đời — người phương Tây cho rằng quốc gia của họ bị kiểm soát bởi một thứ gọi là phức hợp công nghiệp quân sự. Những năm 1960, Eisenhower đã cảnh báo người Mỹ phải đề phòng điều này. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, người châu Âu cũng hiểu rõ điều này có ý nghĩa gì tại quốc gia của chính họ. Nhưng hiện nay, phức hợp công nghiệp quân sự không còn là động lực chính của xã hội. Thực tế, gần năm mươi năm qua chúng ta đang nằm dưới sự kiểm soát của một phức hợp hoàn toàn mới, so với trước đây, sức mạnh kiểm soát này mạnh hơn, phạm vi rộng hơn. Chúng tôi gọi đó là phức hợp Chính trị-Pháp luật-Truyền thông, gọi tắt là Chính-Truyền-Pháp. Phức hợp này dưới chiêu bài tăng cường cảm giác an toàn, đã vắt óc tăng cường nỗi sợ hãi của con người."
"An toàn là quan trọng."
"Xin lỗi. Các quốc gia phương Tây đã rất an toàn rồi. Thế nhưng mọi người vẫn không cảm nhận được, tất cả đều do Chính-Truyền-Pháp gây ra. Bởi vì phức hợp này liên quan đến mọi mặt của xã hội, nên nó rất mạnh mẽ, rất vững chắc, các chính trị gia cần tạo ra nỗi sợ để kiểm soát dân chúng. Pháp luật cần có nguy hiểm để họ có cơ hội kiện tụng, kiếm tiền. Truyền thông cần những câu chuyện kinh dị để thu hút khán giả. Ba thứ này cấu kết với nhau, thông đồng làm bậy, không có cũng vẽ ra cho có, muốn làm gì thì làm. Một số nỗi sợ hoàn toàn không có căn cứ, ví dụ, cấy ghép túi ngực silicon hoàn toàn là chuyện hư cấu."
Evans thở dài, lắc đầu: "Cấy ghép túi ngực silicon?"
"Đúng. Cậu nên nhớ cấy ghép túi ngực silicon từng bị tuyên bố là gây ung thư và các bệnh về hệ thống miễn dịch. Mặc dù các loại số liệu thống kê chứng minh đây không phải là sự thật, nhưng chúng ta thấy cấy ghép túi ngực silicon đã trở thành tâm điểm và tiêu điểm chú ý của tin tức, kiện tụng và các phiên điều trần chính trị. Nhà sản xuất Dow Corning sau khi chi trả 3,2 tỷ USD đã phá sản. Vụ kiện này khiến các nguyên đơn và luật sư thắng lớn."
"Bốn năm sau, nghiên cứu dịch tễ học cho thấy cấy ghép túi ngực silicon hoàn toàn không gây bệnh. Nhưng lúc đó phức hợp Chính-Truyền-Pháp đã lợi dụng cuộc khủng hoảng này để đạt được mục đích. Thế là cỗ máy tham lam này lại bắt đầu tìm kiếm những thứ gây sợ hãi mới. Điều tôi muốn nói với cậu là, đây chính là xã hội hiện đại — một xã hội không ngừng sản xuất nỗi sợ. Không có bất kỳ thế lực nào chống lại nó. Không có sự kiềm chế lẫn nhau, không có sự hạn chế đối với nỗi sợ ngày càng tăng, vì vậy, nỗi sợ cứ tiếp nối nhau..."
"Bởi vì chúng ta có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí."
"Đây chính là câu trả lời kinh điển của phức hợp Chính-Truyền-Pháp. Đó cũng là lý do tại sao chúng trường tồn," Hoffman nói, "nhưng cậu thử nghĩ xem. Nếu ở trong một rạp hát đông người mà hét lớn 'cháy rồi!' là sai trái, vậy tại sao trên các trang báo của tờ 'New Yorker' hét lớn 'Ung thư!' lại là hợp lý, trong khi sự thật không phải như vậy? Để làm rõ tin đồn dây điện gây ung thư, chúng ta đã tốn 25 tỷ USD. Cậu sẽ nói, 'thì đã sao?' Vẻ mặt của cậu cho tôi biết điều đó. Cậu đang nghĩ, chúng ta có tiền, chúng ta trả nổi. Không phải chỉ là 25 tỷ thôi sao. Nhưng có một sự thật thế này, 25 tỷ USD là tổng GDP một năm của 50 quốc gia nghèo nhất thế giới. Một nửa dân số thế giới có chi phí sinh hoạt mỗi ngày chỉ có 2 USD. Nghĩa là, 25 tỷ USD đủ để chi trả chi phí sinh hoạt cho 24 triệu người trong một năm. Hoặc dùng số tiền này chúng ta có thể giúp đỡ tất cả bệnh nhân AIDS ở châu Phi. Ngược lại, chúng ta lại tiêu tiền vào những ảo tưởng trên mặt báo, mà độc giả thì lại tin sái cổ. Tin tôi đi, đây là một sự lãng phí tiền bạc khổng lồ. Đối với một thế giới khác, đây là một sự lãng phí đáng xấu hổ. Người ta rất dễ liên tưởng đến một phiên tòa Nuremberg khác — phiên tòa lần này xét xử các quốc gia phương Tây tàn nhẫn tiêu tiền vào những chuyện lông gà vỏ tỏi — đối lập hoàn toàn với cái chết của vô số trẻ sơ sinh ở châu Á, châu Phi."
Ông không có cả thời gian để dừng lại thở lấy hơi. "Ít nhất, chúng ta đang bàn luận về một sự tàn bạo về đạo đức. Chúng ta hy vọng các nhà lãnh đạo tôn giáo và những nhà nhân đạo vĩ đại đứng lên kêu gọi chống lại sự lãng phí và những cái chết không cần thiết vốn chẳng hề liên quan đến nhau. Nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo có lên tiếng không? Không. Ngược lại, họ tham gia vào hàng ngũ phụ họa. Họ đặt ra câu hỏi 'Chúa sẽ xua đuổi điều gì'. Như thể họ quên mất Chúa sẽ xua đuổi những lời tiên tri giả dối, và những kẻ gieo rắc nỗi sợ trong nhà thờ."
Ông trở nên đầy hào hứng.
"Chúng ta đang bàn về một tình trạng đạo đức suy đồi cực độ. Nếu mọi người biết được sự thật, họ sẽ vô cùng căm phẫn. Phức hợp Chính-Truyền-Pháp phớt lờ hoàn cảnh của những người nghèo nhất, tuyệt vọng nhất trên trái đất, để những chính trị gia bụng phệ ngồi trong văn phòng, những nhân viên tin tức giàu có đi khắp nơi phát tán tin tức, các luật sư ngồi trong những chiếc xe mui trần Mercedes-Benz. Ồ, còn cả những giáo sư đại học lái xe Volvo nữa. Chúng ta đừng quên họ."
"Chuyện này là sao," Evans hỏi, "việc này có liên quan gì đến giáo sư đại học?"
"Ừm, đó là một chủ đề khác."
"Có thể nói ngắn gọn không?" Evans hỏi.
"Khó nói lắm. Đây chính là lý do tại sao các tiêu đề lớn không phải là tin tức, Peter. Tôi cố gắng nói ngắn gọn vậy," ông nói, "điều tôi muốn nói là, gần năm mươi năm qua thế giới đã thay đổi. Chúng ta hiện đang sống trong xã hội tri thức, hay xã hội thông tin, dù cậu gọi nó là gì đi nữa, nó đã gây ảnh hưởng cực lớn đến các trường đại học của chúng ta."
"Năm mươi năm trước, nếu cậu muốn sống một cuộc đời mà lúc đó gọi là 'đời sống trí tuệ', dựa vào trí tuệ của mình để trở thành một trí thức, cậu phải làm việc trong trường đại học. Trong toàn xã hội không có chỗ cho cậu. Có vài phóng viên báo chí có thể được xem là đang sống dựa vào trí tuệ, nhưng đó là cơ hội duy nhất. Đại học thu hút những trí thức sẵn sàng từ bỏ những thứ trần tục, muốn sống một cuộc đời tách biệt với thế giới, họ dạy những giá trị vượt thời gian cho thế hệ trẻ. Công việc trí tuệ là công việc chính đáng của đại học."
"Nhưng ngày nay, toàn bộ xã hội đều sống dựa vào trí tuệ. Hiện nay công việc trí tuệ là nền tảng của toàn bộ nền kinh tế của chúng ta. 36% công nhân là lao động tri thức. Tỷ lệ này trong ngành sản xuất còn cao hơn. Các giáo sư quyết định họ không còn giảng dạy cho người trẻ nữa, giao nhiệm vụ này cho các nghiên cứu sinh mà họ dẫn dắt. Mà những nghiên cứu sinh này biết không nhiều bằng thầy của họ, hơn nữa tiếng Anh cũng nói rất tệ — lúc này, đại học rơi vào khủng hoảng. Họ còn có ích gì nữa, họ đã mất đi vùng lãnh thổ độc nhất để kiểm soát đời sống trí tuệ. Họ không còn dạy người trẻ nữa. Chỉ là mỗi năm xuất bản rất nhiều bài viết lý thuyết thuần túy về ký hiệu học Foucault. Đại học của chúng ta sẽ trở thành cái gì? Họ còn liên quan gì đến thời đại nữa?"
Dường như câu hỏi này làm ông phấn chấn, ông đứng dậy. Sau đó đột ngột ngồi xuống.
"Điều xảy ra tiếp theo," ông tiếp tục, "chính là sự chuyển mình của chính các trường đại học trong những năm 1980. Trước đây, đại học là pháo đài của tự do trí tuệ trong thế giới phàm tục, là nơi khởi nguồn của tự do tình dục, trải nghiệm tình dục, mà bây giờ lại là nơi bị hạn chế nhất trong xã hội hiện đại. Bởi vì đại học đóng vai trò mới, trở thành kẻ khởi xướng tạo ra nỗi sợ mới trong phức hợp Chính-Truyền-Pháp. Đại học ngày nay là nhà máy sản xuất nỗi sợ. Họ tạo ra đủ loại nỗi sợ mới và sự bất an xã hội mới, cùng với đủ loại mã hạn chế mới. Một vài từ cậu không được nói. Một vài quan điểm cậu không thể nghĩ đến. Họ không ngừng tạo ra những lo âu, nguy hiểm và nỗi sợ xã hội mới, để các chính trị gia, luật sư, nhà báo sử dụng. Thực phẩm có hại cho cậu, hành vi không thể chấp nhận. Không được hút thuốc, không được chửi thề, không được lừa đảo, không được suy nghĩ. Trong vòng một thế hệ, những điều này hoàn toàn bị đảo lộn. Thật không thể tin nổi."
"Nếu không có đại học tiếp tay, trạng thái sợ hãi hiện đại tuyệt đối không thể tồn tại. Hỗ trợ cho tất cả những điều này là một mô hình tư duy kiểu Stalin mới kỳ lạ. Mô hình này chỉ có thể phát triển nhanh chóng trong môi trường khép kín bị hạn chế, không có quy trình định sẵn. Cho đến nay, trong xã hội của chúng ta, chỉ có đại học mới tạo ra mô hình này. Quan điểm cho rằng đại học là tự do là một trò đùa cay nghiệt. Tôi nói cho cậu biết, đại học là những kẻ phát xít triệt để."
Ông dừng lại một chút, chỉ xuống vỉa hè: "Gã đang chen ra khỏi đám đông đi về phía chúng ta là ai? Kỳ lạ thật, trông gã quen quen."
Evans nói: "Là Ted Bradley, một diễn viên."
"Tôi đã gặp gã ở đâu nhỉ?"
"Anh ta từng đóng vai tổng thống trên truyền hình."
"Ồ, đúng rồi. Chính là gã."
Ted đến trước mặt họ, thở hổn hển. "Peter," anh ta nói, "tôi tìm cậu khắp nơi, điện thoại của cậu có mở không?"
"Không, bởi vì..."
"Sarah vẫn luôn muốn tìm cậu. Cô ấy nói có việc quan trọng. Chúng ta phải rời đi ngay lập tức, mang theo hộ chiếu của cậu."
Evans nói: "Chúng ta, việc này có liên quan gì đến anh?"
"Tôi đi cùng cậu." Ted nói.
Khi họ chuẩn bị rời đi, Hoffman kéo tay áo Evans, lôi anh lại. Ông lại có ý tưởng mới. "Chúng ta vẫn chưa thảo luận về vấn đề phục hồi," ông nói.
"Giáo sư..."
"Trong tiến trình phát triển của một quốc gia, đó là bước tiếp theo sẽ xảy ra, thực tế đang xảy ra. Cậu nhất định phải cảm nhận được sự mỉa mai trong đó, dù sao cũng là 25 tỷ USD mà, mười năm sau, cũng chính những nhân vật kiệt xuất giàu có sợ nhiễm ung thư từ dây điện đó, bây giờ đang đi khắp nơi mua nam châm, buộc vào cổ chân hoặc đặt dưới đệm — nam châm nhập khẩu từ Nhật Bản là tốt nhất, cũng là đắt nhất — để đạt được hiệu quả sức khỏe từ từ trường. Cùng một từ trường đó — họ bây giờ lại lo không kiếm đủ nam châm!"
"Giáo sư," Evans nói, "tôi phải đi rồi."
"Tại sao những người này không dựa vào màn hình tivi? Tại sao không nép vào đồ dùng nhà bếp? Trước đây những thứ này đều khiến họ cảm thấy sợ hãi cơ mà."
"Chúng ta nói chuyện sau nhé." Evans nói, rút tay lại.
"Họ thậm chí còn bán nam châm trên tạp chí sức khỏe! Cuộc sống khỏe mạnh chỉ có thể đạt được thông qua từ trường! Thật là điên rồ! Chuyện vài năm trước chẳng ai nhớ nữa! Đến cả George Orwell cũng chẳng ai nhớ cho rõ!"
"Gã đó là ai?" Khi họ bắt đầu rời đi, Bradley hỏi, "Ông ta có vẻ hơi căng thẳng, phải không?"