Trương Lập Bản cuối cùng cũng đến nơi, một màn chào hỏi nhiệt tình là điều khó tránh khỏi.
Vị cựu Bí thư Ủy ban Chính pháp này vẫn luôn đánh giá cao Lục Vi Dân, nhưng việc Lục Vi Dân thăng tiến với tốc độ chóng mặt như vậy vẫn khiến ông vô cùng kinh ngạc.
Chỉ mới làm việc hơn năm năm đã leo lên đến vị trí Bí thư Huyện ủy, cho dù cậu ta có vào Đảng từ thời đại học, cho dù năng lực bản lĩnh xuất chúng, cho dù cậu ta đã bước lên được bậc thang mà người thường khó lòng chạm tới là làm thư ký cho lãnh đạo, thì điều đó vẫn khiến người ta cảm thấy khó tin.
Ấn tượng của Lục Vi Dân về Trương Lập Bản cũng rất tốt. Cậu biết khi mình còn ở Nam Đàm, Trương Lập Bản từng có ý định điều cậu về Ủy ban Chính pháp. Dù bản thân không muốn làm việc ở đó và ý định này cũng không thành hiện thực, nhưng cậu vẫn rất cảm kích sự coi trọng của Trương Lập Bản dành cho mình.
Từ đây đi Tống Châu có hai con đường. Một là đi qua Xương Châu đến Tống Châu, quãng đường khoảng ba trăm bốn mươi cây số. Đường Xương - Tống là tuyến đường cấp hai đầu tiên, dài một trăm hai mươi cây số, mặt đường rất tốt, chỉ mất một tiếng rưỡi là đến nơi, nghe nói hiện tại đang có kế hoạch nâng cấp lên thành đường cấp một.
Còn một con đường khác cũng có thể đến Tống Châu, đó là đi theo quốc lộ Phụ - Lâm, qua Nghi Sơn rồi đến Tống Châu, dài hai trăm tám mươi cây số. Tuy nhiên, đường Phụ - Lâm hiện chỉ mới bắt đầu xây dựng, con đường này vẫn chỉ là một ý tưởng. Nếu đi qua Lạc Môn đến Tống Châu thì quãng đường tăng lên đáng kể, mặt đường lại không tốt, không hề kinh tế, nên chỉ đành chọn đi qua Xương Châu.
Kỹ thuật lái xe của Lục Vi Dân vừa nhanh vừa vững. Mặc dù hiện tại cậu không còn lái xe nhiều như trước, nhưng cảm giác lái vẫn rất tốt. Hơn nữa, trên suốt dọc đường ba người trò chuyện rất rôm rả, tâm trạng vui vẻ, hành trình vốn khô khan cứ thế trôi qua trong chớp mắt.
Bốn giờ năm mươi phút chiều, họ đúng giờ đi qua Xương Châu và tiến vào đường Xương - Tống. Lưu lượng xe trên tuyến đường này rất lớn nhưng mặt đường cực kỳ tốt. Nhiều đoạn dù trên danh nghĩa là đường cấp hai nhưng thực tế đã mở rộng thành bốn làn xe, các công trình giao thông đầy đủ, hơn nữa khi đi qua các huyện dọc đường đều đã có đường tránh nội thị, nên suốt dọc đường đi không gặp mấy trở ngại.
Lục Vi Dân giữ tốc độ xe ổn định trong khoảng từ chín mươi đến một trăm cây số một giờ, hơi nhanh một chút, chỉ khi gặp đoạn xe cộ đông đúc mới giảm tốc độ xuống đôi chút, nhưng nhìn chung vẫn rất thông suốt.
Khi tiến vào khu vực nội thành Tống Châu thì vừa đúng sáu giờ mười lăm phút. Còn mười lăm phút nữa mới đến giờ hẹn, tốc độ xe mới chậm lại, ba người lúc này mới có thời gian nhàn rỗi để quan sát thành phố được mệnh danh là lớn thứ hai tỉnh Xương Giang này.
Nói Tống Châu là thành phố lớn thứ hai Xương Giang không chỉ vì dân số đứng thứ hai toàn tỉnh, chỉ sau Xương Châu, mà còn vì quy mô nội thành và số lượng dân cư đô thị của Tống Châu vượt xa các thành phố khác trong tỉnh. Đây cũng là một trong mười chín thành phố lớn được Quốc vụ viện xác định, được phê duyệt vào tháng 7 năm 92, cùng với Truy Bác, Hàm Đan, Bản Khê trở thành các thành phố lớn.
Tống Châu cũng là thành phố cấp địa khu được thành lập sớm nhất tại tỉnh Xương Giang kể từ khi lập nước. Tốc độ phát triển về dân số đô thị và diện tích nội thành trước giữa thập niên tám mươi đã vượt xa các thành phố khác trong tỉnh. Phải đến cuối thập niên tám mươi, họ mới dần bị những thành phố có nền kinh tế phát triển thần tốc như Côn Hồ, Thanh Khê đuổi kịp. Nhưng ngay cả bây giờ, dân số và diện tích nội thành của Tống Châu vẫn vượt trội hơn Côn Hồ và Thanh Khê, chỉ là về tổng lượng kinh tế thì đã bị những "ngôi sao mới nổi" này bỏ lại phía sau, thậm chí còn bị những "người em" trước đây vốn chẳng đáng nhắc tới như Quế Bình, Nghi Sơn vượt mặt.
Thế nhưng, sự kiêu ngạo bẩm sinh của người Tống Châu vẫn khiến họ khinh thường việc phải đứng chung hàng ngũ với những kẻ "nhà quê" như Quế Bình và Nghi Sơn. Ngay cả với Côn Hồ và Thanh Khê, những thành phố đã bỏ xa Tống Châu về tổng lượng kinh tế, họ cũng chẳng thèm để mắt tới. Dường như họ cảm thấy ở Xương Giang, ngoài người Xương Châu và Tống Châu dám xưng là dân thành phố lớn, thì những nơi khác đều là lũ nhà quê không đáng nhắc tên.
Đương nhiên, đằng sau sự kiêu ngạo tự tôn đó vẫn là rất nhiều sự đố kỵ và ghen ghét. Dù sao thì GDP của Côn Hồ đã vượt gấp đôi Tống Châu, GDP của Thanh Khê cũng gần gấp đôi, thu nhập khả dụng của cư dân đô thị và thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn đều đã vượt xa Tống Châu. Dù là Côn Hồ hay Thanh Khê, dân số cũng chỉ bằng hơn hai phần ba Tống Châu mà thôi.
Sự tương phản khổng lồ này khiến người Tống Châu vừa cảm thấy mất mát, tự ti trong thâm tâm, vừa tỏ ra vô cùng phô trương, kiêu ngạo ở bề ngoài, đặc biệt nhạy cảm khi bị so sánh với Côn Hồ và Thanh Khê.
Đặc biệt là khi đổi sang biển số xe mới, việc ai được chiếm lấy biển số "Xương B" nghe nói đã gây ra một phen sóng gió.
Côn Hồ cho rằng họ xứng đáng là "số hai" không thể bàn cãi của toàn tỉnh, dù là GDP, thu nhập tài chính hay thu nhập bình quân đầu người đều vượt xa các địa khu khác, họ đương nhiên phải có được biển số Xương B, đồng thời đưa ra các ví dụ như Quảng Đông B là Thâm Quyến, Tứ Xuyên B là Trùng Khánh.
Phía Tống Châu phản ứng lại càng dữ dội hơn. Họ phản đối gay gắt việc sắp xếp thứ tự biển số theo thực lực kinh tế, mà đề xuất sắp xếp theo lịch sử thành lập thành phố cấp địa khu. Họ cho rằng lịch sử là vĩnh hằng, còn trình độ phát triển kinh tế chỉ là nhất thời. Phải biết rằng trong thập niên bảy mươi, tám mươi, thực lực kinh tế của Tống Châu đứng thứ hai toàn tỉnh là điều không cần bàn cãi, chỉ là đến cuối thập niên tám mươi mới dần sa sút, sau này Tống Châu nhất định có thể lấy lại phong độ.
Sau vài lần giằng co, Tống Châu cuối cùng cũng đạt được ý nguyện giành lấy biển số Xương B. Thế nhưng, dù là người Côn Hồ hay Thanh Khê, không ai bảo ai đều chế giễu Tống Châu là "bệnh phu Xương Giang", hữu danh vô thực, chỉ được cái hư vinh, mặt dày mày dạn tranh giành biển số Xương B nhưng lại không có thực lực kinh tế tương xứng với vị thế thành phố lớn thứ hai, làm nhục mặt Xương Giang. Kiểu nói này từng một thời lan truyền dữ dội, khiến người Tống Châu vô cùng oán hận phía Côn Hồ và Thanh Khê.
Mặc dù Tống Châu giành được biển số Xương B, nhưng các địa khu khác thì không còn được xếp theo thứ tự thành lập thành phố nữa mà cơ bản đều xếp theo thực lực kinh tế. Côn Hồ đường hoàng lấy được Xương C, còn Thanh Khê lấy được Xương D.
Diện tích nội thành của Tống Châu quả thực rất lớn, nhưng cả ba người đều nhận thấy quy hoạch đô thị ở đây không tốt lắm. Nhà cũ và công trình mới đan xen, vô số khu làng trong phố và những tòa nhà gạch đỏ kiểu Xô Viết nằm lẫn lộn. Đường phố cũng lúc thì rộng rãi thoáng đãng, lúc lại đột ngột thu hẹp thành con ngõ nhỏ chỉ vừa ba chiếc xe đi lọt. Hơn nữa, thỉnh thoảng lại bắt gặp những đoạn đường hư hỏng, nước thải tràn lan, rác rưởi khắp nơi.
"Lão Trương, anh bao nhiêu năm rồi không đến Tống Châu?" Từ Hiểu Xuân nhìn ra đường phố ngoài cửa sổ, tiện miệng hỏi.
"Cũng mấy năm rồi, năm 90 từng đến, những năm tám mươi thì thường xuyên ghé qua. Hồi đó cứ nghĩ Tống Châu đúng là một thành phố lớn thực thụ, chẳng kém gì Thường Châu. Sao giờ nhìn lại còn có phần thua kém cả Phong Châu thế này?" Trương Lập Bản cau mày, "Quy hoạch xây dựng thành phố tệ quá. Khu Tống Thành là khu nội đô cũ, nhưng cũng không đến mức nát bươm thế này chứ? Xây dựng đô thị cứ như chưa từng được thực hiện vậy."
"Ừm, nếu nói về sự phồn hoa náo nhiệt thì ở đây hơn hẳn Phong Châu. Anh nhìn dòng người trên phố xem, ở Phong Châu trong thời tiết lạnh lẽo thế này, trên đường làm gì còn mấy bóng người. Anh nhìn người ta ở Tống Châu xem, đâu đâu cũng thấy người, quả không hổ danh là thành phố lâu đời." Từ Hiểu Xuân gật đầu, "Dân số đô thị của Tống Châu nhiều hơn các địa khu khác rất nhiều, dân thường trú nội thành chắc phải sáu bảy mươi vạn người nhỉ?"
"Nhà máy dệt số 1, số 2 Tống Châu, nhà máy dệt kim số 1, số 4 Tống Châu, nhà máy khăn trải giường Tống Châu, nhà máy tơ lụa Tống Châu, nhà máy thiết bị dệt Tống Châu... chỉ riêng mấy nhà máy cực thịnh trong thập niên tám mươi này đã đặt nền móng cho cơ sở công nghiệp dệt may Xương Giang của Tống Châu. Nhà máy nào chẳng có hàng ngàn công nhân? Chỉ tính riêng công nhân và gia đình các doanh nghiệp dệt may thôi đã phải tới bảy tám vạn người rồi." Trương Lập Bản rất am hiểu về Tống Châu thời trước, "Nhưng hình như các doanh nghiệp này hiện giờ đều không mấy khả quan, đang đối mặt với khó khăn kinh doanh cực lớn. Quê vợ tôi ở huyện Thương Hà, Tống Châu, hai người dì của mẹ vợ tôi đều ở Tống Châu, một người ở nhà máy dệt kim số 4, một người ở nhà máy tơ lụa. Giờ hiệu quả kinh doanh đều kém, chỉ nhận được phí sinh hoạt cơ bản, mấy đứa con trong nhà đều không có việc làm, đứa thì bày hàng bán vỉa hè, đứa thì đi làm thuê ở Xương Châu, cuộc sống chẳng dễ dàng gì."
Một câu nói đã phác họa ra tình cảnh của Tống Châu. Trong giọng điệu của Trương Lập Bản cũng lộ ra một nỗi buồn khó tả. "Hồi mới cưới, tôi còn đang làm liên lạc viên cho Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng ở công xã quê nhà, vợ tôi thì làm ở hợp tác xã cung tiêu. Nhà cô ấy phản đối quyết liệt, nhất là hai người dì của cô ấy, cứ khăng khăng đòi giới thiệu đối tượng ở Tống Châu cho cô ấy, bắt gả đến Tống Châu. Họ nói lấy tôi chẳng có tương lai gì, đúng là "cóc ghẻ đòi ăn thịt thiên nga", Nam Đàm là vùng khỉ ho cò gáy, cả đời đừng hòng ngóc đầu lên được. Năm ngoái hai người dì đó đến Nam Đàm, kể lể hoàn cảnh khó khăn ở nhà, mẹ vợ tôi cứ càm ràm mãi. Vợ tôi cắn răng lấy ra sáu trăm đồng đưa cho mỗi người dì, họ cười hớn hở ra về, nghe nói gặp ai cũng khen tôi tốt. Thế mà mẹ vợ tôi lại xót tiền, cứ trách con gái mình không biết tính toán, là đứa đàn bà phá gia chi tử."
Lời của Trương Lập Bản khiến Lục Vi Dân và Từ Hiểu Xuân đều bật cười. Kinh tế Nam Đàm hai năm nay cũng khá, với tư cách là Phó Bí thư Huyện ủy, thu nhập mỗi năm của Trương Lập Bản ít nhất cũng phải một hai vạn, bỏ ra hơn một ngàn đồng mà gột rửa được cái "nhục" cóc ghẻ ăn thịt thiên nga ngày xưa, quả là xứng đáng.
Nhưng cười xong, cả ba đều nhận ra nỗi đắng cay đằng sau đó. Người Tống Châu vốn nổi tiếng sĩ diện, đến mức phải cúi đầu trước những người thân ở vùng quê mà trước đây họ vốn chẳng buồn ngó ngàng tới như Nam Đàm, cũng đủ thấy kinh tế ở đây đúng là đã gặp phải vấn đề lớn.
"Xem ra Bí thư Thượng và Bí thư An ở đây e là cũng chẳng dễ chịu gì. Tống Châu là một thành phố lớn như vậy, dân số đông, kinh tế không phát triển nổi, áp lực phải chịu không hề nhỏ. Những nơi mà ngành công nghiệp truyền thống lâm vào bế tắc như thế này, vấn đề không chỉ nằm ở phát triển kinh tế, mà còn là áp lực khổng lồ về ổn định xã hội và việc làm. Mấy vấn đề này đan xen vào nhau, ai muốn giải quyết cũng chẳng đơn giản chút nào."
Lời của Lục Vi Dân khiến Trương Lập Bản lại thở dài một tiếng. "Hiểu Xuân, Vi Dân, hai người có biết bên ngoài người ta đồn ngành nào phát triển nhất Tống Châu không? Hừ, họ bảo là ngành giải trí. Khu vui chơi, hộp đêm mọc lên như nấm, cái nào cái nấy đều cao cấp, tiếp viên bên trong nhiều như quân Nguyên. Trong đó có một bộ phận không nhỏ chính là con em công nhân của những doanh nghiệp đang sa sút này. Trước đây khi doanh nghiệp còn thịnh vượng, con em có thể được sắp xếp vào làm ngay tại nhà máy, còn giờ thì sao? Đến bố mẹ họ còn chẳng có việc mà làm, chỉ nhận được phí sinh hoạt, thì làm sao có thể tuyển thêm người? Năm ngoái khi tôi còn làm Bí thư Ủy ban Chính pháp, đi họp ở tỉnh, người phía Côn Hồ nói đùa rất ác ý. Họ bảo tại sao Tống Châu cứ khăng khăng tranh giành cái biển số xe đầu Xương B? Vì ở đó chẳng còn gì đáng khoe khoang nữa, chỉ còn lại cái "bím" của đàn bà, nên chữ B chính là thương hiệu của Tống Châu, gọi là Xương B - Xương Bím. Tôi không biết người Tống Châu nghe được sẽ nghĩ thế nào."