Nhân đạo:
Trong tâm trí của rất nhiều người đều có tâm lý ghét người giàu.
Cũng có rất nhiều người ăn mềm không ăn cứng.
Không ai coi một người khiêm tốn là kẻ thù.
Chỉ cần đối phương cúi đầu, cơn giận sẽ dễ dàng tiêu tan.
Những kẻ bị người ta căm ghét, đa phần đều là hạng kiêu ngạo, tàn nhẫn.
Càng khiêm tốn thì càng được nâng cao.
Càng ngạo mạn thì càng bị dìm xuống thấp.
Càng thần phục, càng đặt mình ở vị trí thấp, thì càng dễ dẫn dắt năng lượng và vận thế chảy về phía mình.
Thuật dẫn dắt năng lượng hóa ra cũng chính là Thiên đạo.
Ngoại quái của quẻ Khiêm là Khôn, Khôn là Đất, là Thuận.
Ngoại quái là Thuận, đại diện cho vẻ ngoài mềm mỏng.
Nội quái là Cấn, Cấn là Núi, là Chỉ (dừng lại).
Nội quái là Chỉ, đại diện cho việc nội tâm phải biết điểm dừng, tri túc mới có thể thường lạc.
"Kinh Thánh" viết: "Hãy bằng lòng với những gì mình có."
Nho gia đề xướng: "An bần lạc đạo, bất dĩ dục thương sinh" (An phận nghèo mà vui với đạo, không để ham muốn làm tổn hại sinh mệnh).
Còn Phật gia lại giảng: Người biết đủ tuy nghèo mà giàu; kẻ không biết đủ tuy giàu mà nghèo.
"Đạo Đức Kinh" giảng: "Họa mạc đại ư bất tri túc" (Không họa nào lớn bằng không biết đủ).
Biết đủ là điều kiện tiên quyết để tránh xa tai họa.
Kẻ không biết đủ thì không thể khiêm tốn và thần phục.
Chúng ta không thể quá coi trọng bản thân, chúng ta phải thần phục mới có thể thuận theo Thiên đạo.
Chúng ta cũng không thể tự coi nhẹ bản thân, bởi "linh hồn của Thần" vẫn đang ngự trị bên trong chúng ta.
Đây là ngộ tính mà tôi có được khi bước ra từ chỗ của Mục sư Billy.
Chỉ tiếc rằng, đây mới chỉ là kết luận do tôi dùng đại não để suy luận và phân tích ra.
Hiểu thì có hiểu, nhưng chỉ giới hạn ở mức đại não hiểu.
Còn tâm thì chưa hiểu.
Thế là trên suốt chặng đường đời, cuộc sống đã dạy cho tôi hết bài học này đến bài học khác.
Về sau, tôi mới dần dần thấu hiểu thế nào là tâm, thế nào là não.
Những gì tâm lý học giảng chưa chắc đã là tâm.
Rất nhiều hiệu ứng thực chất đều đang nói về đại não.
Ví dụ như hiệu ứng hào quang.
Thấy người ta ăn mặc đẹp đẽ liền lầm tưởng năng lực làm việc của họ cũng rất mạnh.
Đó là đại não đang suy luận.
Hay như hiệu ứng phóng chiếu.
Bản thân thế nào thì cũng nghĩ người khác giống hệt mình.
Hoặc như hiệu ứng mỏ neo.
Đầu tiên niêm yết một mức giá cao, gạch đi, rồi viết một mức giá thấp ngay bên cạnh để người ta có cảm giác mua được rẻ.
Đây cũng là sự suy luận của đại não.
Suy luận quy nạp là phương thức tư duy cao cấp nhất của nhân loại.
But điều này cũng chỉ giới hạn trong chiều kích của đại não.
Não và tâm không nằm chung một chiều kích.
Chiều kích của tâm cao hơn rất nhiều.
Đại não có lợi hại không?
Cũng rất lợi hại.
Nó giống như một đường thẳng một chiều, trên đó có vô số điểm.
Đại não cũng có thể nghĩ ra vô số ý tưởng.
Nhưng so với mặt phẳng hai chiều thì khoảng cách lại quá lớn.
Không gian hai chiều chứa vô số đường thẳng một chiều.
Trên mỗi đường thẳng lại có vô số điểm.
Lệch nhau một chiều kích là lệch nhau vô số lần.
Chiều kích của tâm cao hơn não.
Chiều kích của não không thể hiểu được những chuyện ở tầng thứ của tâm.
Cho nên: "Đạo khả đạo dã, phi hằng đạo dã."
Cho nên: "Những gì mắt thấy chỉ là tạm thời, những gì không thấy mới là vĩnh cửu."
Cho nên: "Bất sinh sinh bất khả thuyết, sinh sinh diệc bất khả thuyết, sinh bất sinh diệc bất khả thuyết, bất sinh bất sinh diệc bất khả thuyết, sinh diệc bất khả thuyết, bất sinh diệc bất khả thuyết."
Tu hành là dựa vào hành động thực tiễn chứ không phải cái miệng.
Nói nhiều đến đâu mà không tự mình thực hành thì cũng chẳng thể cảm nhận sâu sắc.
Khi tôi mang theo vô vàn cảm ngộ trở về nơi ở, tôi thấy Đỗ Nhạc đang ôm điện thoại cười ngớ ngẩn.
Cậu ta rất hay cười, lại có gu hài hước rất thấp.
Nhưng cười đến mức độ như thế kia thì quả là hiếm thấy.
Tôi rướn dài cổ, ghé sát vào điện thoại của Đỗ Nhạc để xem có chuyện gì mà lại buồn cười đến vậy.
Nhìn kỹ lại, hóa ra cậu ta đang đọc truyện sảng văn.