THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 1806 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 487
Đại Du Niên (Xem cho biết thôi)

❊ ❊ ❊

(Cấn lục tuyệt họa sinh diên thiên ngũ.)

Nghĩa là, nếu mở cửa ở cung Cấn 8, thì vị trí Tốn 4 sẽ là vị trí Tuyệt Mệnh.

Ngược lại, nếu mở cửa ở cung Tốn 4, thì cung Cấn 8 cũng là vị trí Tuyệt Mệnh.

Đây chính là ý nghĩa của việc 4 và 8 là Tuyệt Mệnh của nhau như đã nói ở phần Tám Sao phía trước.

Tám ngôi sao này còn có một tên gọi khác.

Lục là Lục Sát, sao Văn Khúc thuộc hành Thủy, hung.

Thiên là Thiên Y, sao Cự Môn thuộc hành Thổ, cát.

Ngũ là Ngũ Quỷ, sao Liêm Trinh thuộc hành Hỏa, hung.

Họa là Họa Hại, sao Lộc Tồn thuộc hành Thổ, hung.

Tuyệt là Tuyệt Mệnh, sao Phá Quân thuộc hành Kim, hung.

Diên là Diên Niên, sao Vũ Khúc thuộc hành Kim, cát.

Sinh là Sinh Khí, sao Tham Lang thuộc hành Mộc, cát.

Tám ngôi sao nói ở phía trước sử dụng Tiên Thiên Bát Quái Đồ, có lẽ mọi người xem sẽ hơi hoang mang, ở đây tôi xin giải thích thêm cho mọi người về nguyên lý của nó.

Quy luật suy diễn của Bát Trạch Du Niên là do hào biến của Bát Quái mà ra.

Khẩu quyết của nó là: "Thượng trung hạ hề trung thượng trung, hạ trung nhất quyết trị thiên kim."

Ý nghĩa là: Trình tự biến đổi là Thượng, Trung, Hạ, Trung, Thượng, Trung, Hạ, Trung, vừa vặn quay một vòng về lại vị trí ban đầu. (Xem hình dưới)

(Hình trên bắt đầu từ quẻ Càn, lần thứ nhất biến thành quẻ Đoài, tạo thành tổ hợp Sinh Khí với quẻ Càn. Lần thứ hai biến thành quẻ Chấn, tạo thành tổ hợp Ngũ Quỷ với quẻ Càn. Cứ thế suy ra.)

Một biến hào thượng là Sinh Khí.

Hai biến hào trung là Ngũ Quỷ.

Ba biến hào hạ là Diên Niên.

Bốn biến hào trung là Lục Sát.

Năm biến hào thượng là Họa Hại.

Sáu biến hào trung là Thiên Y.

Bảy biến hào hạ là Tuyệt Mệnh.

Tám biến hào trung là Phục Vị.

"Du Niên Hào Biến Ca Quyết" là:

Tam hào bất động bản Phục Vị, tam hào cụ biến Diên Niên Kim.

Thượng nhất hào biến vi Sinh Khí, hạ nhất hào biến nãi Lộc Tồn.

Thượng nhị hào biến thành Ngũ Quỷ, hạ nhị hào biến tác Cự Môn.

Thượng hạ hào biến Lục Sát Thủy, trung hào độc biến hệ Phá Quân.

(Lộc Tồn tức là Họa Hại, Cự Môn tức là Thiên Y, Phá Quân tức là Tuyệt Mệnh.)

Ý nghĩa là: "Tam hào bất động bản Phục Vị"

Cả ba hào đều không động thì gọi là Phục Vị, ngũ hành thuộc Mộc. (Cũng có người gọi là vị trí Phụ Bật)

Ví dụ như mở cửa ở cung Càn 6, cả ba hào đều không biến đổi thì vẫn là quẻ Càn. Tức là Càn 6 và Càn 6 có quan hệ Phục Vị, chỉ vị trí của cửa ra vào.

"Phục Vị" là ngôi sao cuối cùng trong bốn sao tốt, mang ý nghĩa bình hòa, ngang bằng nhau, không tốt cũng không xấu.

"Tam hào cụ biến Diên Niên Kim"

Cả ba hào đều biến đổi thì là vị trí Diên Niên, ngũ hành thuộc Kim.

Ví dụ như lấy Càn 6 làm cửa mở, ba hào đều biến đổi sẽ thành cung Khôn 2. Tức là 6 và 2 tương tác tạo thành từ trường Diên Niên của nhau.

"Diên Niên" mang ý nghĩa kéo dài tuổi thọ, thăng quan tiến chức, đại diện cho năng lực.

"Thượng nhất hào biến vi Sinh Khí"

Chỉ biến đổi hào thứ nhất (hào trên cùng) thì là vị trí Sinh Khí, ngũ hành thuộc Mộc.

Ví dụ như mở cửa ở vị trí Càn 6, chỉ biến đổi hào thứ nhất sẽ thành quẻ Đoài 7, tức là 6 và 7 tương tác tạo thành từ trường Sinh Khí của nhau.

"Sinh Khí" mang ý nghĩa khí cơ sinh sôi, tràn đầy sức sống, có lợi cho việc học tập và phát triển, đại diện cho niềm vui và quý nhân. (Vị trí Văn Xương có thể đặt ở vị trí Sinh Khí)

"Hạ nhất hào biến nãi Lộc Tồn"

Chỉ biến đổi hào dưới cùng thì là sao Lộc Tồn, tức vị trí Họa Hại, ngũ hành thuộc Thổ.

Ví dụ như mở cửa ở vị trí Càn 6, chỉ biến đổi hào dưới cùng sẽ thành quẻ Tốn 4, tức là 6 và 4 tương tác tạo thành Họa Hại của nhau.

"Họa Hại" chủ về khẩu tài (hay cãi bướng), cũng chủ về khối u, bệnh tật, tiểu nhân, đồng thời chủ về các vấn đề liên quan đến tai, tỳ vị và da liễu.

"Thượng nhị hào biến thành Ngũ Quỷ"

Hai hào phía trên đều biến đổi thì là vị trí Ngũ Quỷ, ngũ hành thuộc Hỏa.

Ví dụ như mở cửa ở vị trí Càn 6, hai hào phía trên biến đổi sẽ thành quẻ Chấn 3, tức là 6 và 3 tương tác tạo thành Ngũ Quỷ của nhau.

"Ngũ Quỷ" đại diện cho nóng trong phát viêm, thị phi kiện tụng, phẫu thuật huyết quang, thức đêm nhiều mộng, đầu óc mơ hồ (đại não không chịu sự khống chế, suy nghĩ quá nhiều, nói giảm nói tránh thì là phản ứng nhanh), thói quen xấu, v.v.

"Hạ nhị hào biến tác Cự Môn"

Hai hào phía dưới đều biến đổi thì là sao Cự Môn, tức vị trí Thiên Ất, còn gọi là Thiên Nhất hoặc Thiên Y, ngũ hành thuộc Thổ.

Ví dụ như mở cửa ở vị trí Càn 6, hai hào phía dưới đều biến đổi sẽ thành quẻ Cấn 8, tức là 6 và 8 tương tác tạo thành Thiên Ất của nhau.

"Thiên Ất (Thiên Y)" đại diện cho sự lương thiện, lòng bao dung lớn, có linh tính và có tín ngưỡng.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:470
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »