Sau khi hoàn tất thuận lợi những việc lớn đã trù tính từ lâu, Khang Hi đế vô cùng phấn khởi, thỏa sức du ngoạn khắp Nam Kinh. Nào là Mạc Sầu Hồ, Huyền Vũ Hồ, Kê Minh Tự, Bán Sơn, Yến Tử Cơ, Bạch Lộ Hồ, Thạch Đầu Thành, Thanh Lương Sơn, đêm chèo thuyền trên sông Tần Hoài, ngắm hoa đào bên dòng nước... Có khi ngày đi một nơi, có khi ngày đi hai ba nơi. Ngài chơi đến độ cao hứng, sảng khoái, nhưng lại khiến Ngụy Đông Đình khổ sở vô cùng, bận rộn không kể ngày đêm, tiêu tốn đến sạch cả gia sản. Đúng lúc Khang Hi đang chơi đến độ hăng say nhất, đột nhiên từ kinh sư truyền đến một bản tấu chương hỏa tốc sáu trăm dặm, báo rằng Cát Nhĩ Đan đã tập kết ba mươi vạn binh mã, lại đã ước hẹn với vương gia Khoa Nhĩ Thấm, định mùa xuân tới sẽ hội quân tiến về phía nam. Trên tấu chương có đóng ấn tín của Thái tử giám quốc, kèm theo phê văn: "Việc này vô cùng hệ trọng, xin Hoàng thượng quyết định".
Vốn dĩ chuyến tuần du phương nam của Khang Hi cũng có ý nghĩa tô điểm cho sự thái bình. Vì thế, các vị ngoại phiên đại thần như Tây Tạng, Thanh Hải tứ bộ đều dùng ngựa nhanh dâng biểu chúc mừng, sĩ tử và dân chúng Giang Nam lại càng vui mừng khôn xiết. Nay đột nhiên nhận được tin báo như vậy, Khang Hi có chút khó xử. Cát Nhĩ Đan xưng hùng ở Tây Bắc, gây ra bao tội ác, ngài đã sớm không thể nhẫn nhịn được nữa. Những năm qua, ngài đã tốn bao tâm huyết để dụ Cát Nhĩ Đan tiến về phía đông, nhằm mục đích ngự giá thân chinh, tiêu diệt tên phản vương Mông Cổ không chịu khuất phục này. Nay nhận được tin báo, ngài hận không thể lập tức trở về Bắc Kinh. Thế nhưng, nếu đột ngột kết thúc tuần du, phi ngựa về kinh, liệu có gây ra sự nghi hoặc và bàn tán trong lòng bách tính hay không? Ngài triệu tập các đại thần Thượng thư phòng tới, mọi người kẻ nói người bàn, cuối cùng, ý kiến của Cao Sĩ Kỳ vẫn chiếm ưu thế: Cát Nhĩ Đan muốn tiến về phía đông cũng phải đợi đến mùa xuân sang năm, hãy còn sớm lắm. Hoàng thượng có thể "ngoài lỏng trong chặt", ngầm ban mật chỉ, âm thầm điều động quân đội, lương thảo, bố trí phòng thủ; còn bề ngoài thì vẫn cứ làm việc như bình thường, không để người ngoài nhìn ra chút sơ hở nào. Khang Hi chấp thuận ý kiến của Cao Sĩ Kỳ, lại còn tán thưởng các bản biểu chúc mừng của Minh Châu dâng lên, thậm chí còn khen ngợi Minh Châu. Cao Sĩ Kỳ đứng một bên nghe thấy, không khỏi thầm kinh ngạc. Kể từ đêm mưa Vu Thành Long tới cầu kiến Hoàng thượng, vạch trần Minh Châu, tâm can Khang Hi đã hận thấu xương kẻ này. Bản tấu chương đàn hặc của Vu Thành Long cũng vẫn còn nằm trong tay Cao Sĩ Kỳ. Thế nhưng, bề ngoài Khang Hi đối với Minh Châu vẫn hòa nhã như vậy, vẫn tin tưởng như vậy, vẫn thân thiết như vậy, rốt cuộc Hoàng thượng đang tính toán điều gì? Mặc cho Cao Sĩ Kỳ thông minh thế nào, giỏi đoán ý thánh ra sao, lúc này cũng không thể nắm bắt được. Xem ra, vị Hoàng đế ngoài ba mươi tuổi này, tâm cơ vô cùng thâm sâu, câu "Thiên uy khó dò" quả thật không sai chút nào.
Theo ngày tháng đã định, Khang Hi lại ở lại Nam Kinh thêm ba ngày, người cần gặp đều đã gặp, nơi cần đến đều đã đi, lúc này mới khởi giá về phương bắc. Khi đi qua Sơn Đông, ngài đặc biệt ghé qua Khúc Phụ, bái tế Khổng Miếu. Những người dưới quyền đều nói với Khang Hi rằng, các bậc quân vương đời trước tới bái Khổng Miếu đều hành lễ học trò, hai quỳ sáu dập đầu, thế nhưng Khang Hi lại nói: "Vì lòng dân quy phục, xã tắc an ổn, dập đầu thêm mấy cái, chẳng lẽ ta không còn là Hoàng đế nữa sao?". Quần thần không cãi lại được, đành để ngài hành lễ của bề tôi, giống như đối với Chu Nguyên Chương, dâng lên Chí Thánh Tiên Sư Khổng Lão Phu Tử đại lễ ba quỳ chín dập đầu. Theo quy tắc, tế Khổng Miếu xong là phải tới núi Thái Sơn phong thiện để phô trương văn trị võ công của đại hoàng đế, nhưng Khang Hi lại không làm vậy. Ngài nói: "Kế hoạch của trẫm vẫn còn chưa hoàn thành, sao dám tới núi Thái Sơn phong thiện khoe công?". Như vậy, hình ảnh một vị Hoàng đế khiêm tốn, cẩn trọng, nỗ lực trị quốc lập tức lan truyền khắp cả nước. Ai nấy đều ca ngợi Khang Hi Hoàng thượng xứng đáng là bậc minh quân thánh chúa. Bài văn lớn mang tên "Tuần du phương nam" này đã được Khang Hi thực hiện một cách viên mãn, kết thúc đầu cuối trọn vẹn.
Ai ngờ, vừa trở về Bắc Kinh, những chuyện phiền lòng lại liên tiếp ập tới. Trước tiên là Tô Ma Lạt Cô qua đời, Khang Hi đau đớn mất đi một người bạn tri kỷ, một người "tỷ tỷ" mà mình vô cùng yêu quý. Tiếp đó là Thái hoàng thái hậu đột ngột lâm bệnh nặng. Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang lão Phật gia, trong mấy chục năm qua, đã phò tá Hoàng Thái Cực, lại đích thân nâng đỡ hai vị hoàng đế Thuận Trị, Khang Hi, mà họ đều đăng cơ từ khi còn nhỏ. Từ khi Thuận Trị nhập quan định đỉnh đến khi Khang Hi chấp chính hơn hai mươi năm, Thái hoàng thái hậu đã phải nhọc lòng biết bao, chống đỡ biết bao sóng gió hiểm nguy! Tình cảm của Khang Hi đối với Thái hoàng thái hậu sâu nặng, kính trọng vô cùng, thật khó mà diễn tả bằng lời. Khi tin tức Thái hoàng thái hậu bệnh nặng truyền ra, Khang Hi đang ở Thừa Đức, vừa xem xét công trình xây dựng Tị Thử Sơn Trang, vừa âm thầm thị sát việc bố phòng quân sự của Phi Dương Cổ. Vừa nhận được tin Thái hoàng thái hậu bệnh nặng, ngài lập tức truyền chỉ về kinh, phi ngựa không nghỉ suốt ba ngày ba đêm. Vừa vào hoàng cung, thậm chí không kịp thay y phục, ngài đã chạy thẳng tới Từ Ninh Cung - tẩm cung của Thái hoàng thái hậu. Vào cung, ngài lao tới trước giường bệnh của Thái hoàng thái hậu, giọng run rẩy nói: "Lão Phật gia, cháu đã về rồi, ở đây dập đầu thỉnh an lão Phật gia ạ".
Hiếu Trang Thái hoàng thái hậu đã bệnh rất nặng, đang sốt rét, hôn mê tựa vào giường bệnh. Nghe thấy Khang Hi đã về, tinh thần bà phấn chấn hẳn lên, lập tức mở mắt, đưa tay muốn nắm lấy Khang Hi, nhưng chẳng còn chút sức lực nào: "Hoàng thượng, cuối cùng con cũng đã về... Ồ, con về là tốt rồi. Ta... ta thật sự sợ...". Khang Hi hiểu rõ tâm ý của lão Phật gia, vội đứng dậy, ngồi bên mép giường, hai tay nâng niu bàn tay Thái hoàng thái hậu: "Lão Phật gia, người đừng nói vậy, cháu nghe mà lòng đau xót, sao có thể tới mức đó được chứ? Cháu đã nhờ người xem bói cho lão Phật gia, nói rằng người có dương thọ tới một trăm hai mươi tuổi cơ mà...".
"Than ôi, ta biết, đó đều là lời nói dối người thôi. Nay Phật tổ muốn gọi ta, ta có thể không đi sao? Người ta ai cũng có ngày này, Hoàng thượng đừng buồn. Có mấy lời, phải tranh thủ lúc ta còn tỉnh táo mà dặn dò con...".
Khang Hi run rẩy nói: "Tổ mẫu, người cứ nói đi... Cháu đang nghe đây, cháu nhất định sẽ làm theo từng lời một".
Thái hoàng thái hậu thở dốc mấy hơi, như đang dồn hết tinh thần: "Hoàng thượng, bà cháu ta có được ngày hôm nay, giang sơn Đại Thanh của chúng ta có được ngày hôm nay, thật không dễ dàng gì! Con có hiểu không?".
"Vâng, cháu hiểu. Đại Thanh có được ngày hôm nay, tất cả đều nhờ sự chủ trì và bảo hộ của lão Phật gia...".
"Haiz! Theo lý mà nói, sau khi ta chết, nên được hợp táng cùng Thái tông gia của con mới phải. Thế nhưng, ông nội con đã đại hành mấy chục năm rồi, ta không đành lòng đi quấy rầy ông ấy nữa. Nghe nói, lăng mộ của con được xây ở Tuân Hóa, con hãy xây cho ta một địa cung ở đó đi. Một ngày nào đó, con cũng đi, bà cháu ta vẫn có thể gặp nhau mỗi ngày dưới suối vàng. Có thể thường xuyên nhìn thấy hoàng tôn của ta, ta cũng được an lòng".
Nghe đến đây, Khang Hi không kìm lòng được nữa, ngài lao vào lòng tổ mẫu, nghẹn ngào nói: "Cháu dựa vào lão Phật gia... cháu... không nỡ rời xa người!".
Lúc này, Thái hoàng thái hậu lại vô cùng bình tĩnh, bà vuốt ve lưng Khang Hi nói: "Đứa trẻ ngoan, đừng khóc, đừng khóc, con khóc như vậy, lòng ta... cũng rối loạn theo". Đợi Khang Hi ngừng khóc, bà lại nói: "Bảo bọn họ ra ngoài hết đi, ta có lời muốn nói với con".
Khang Hi vung tay về phía các cung nữ thái giám xung quanh, những người này biết Thái hoàng thái hậu có mật chỉ muốn truyền cho Hoàng thượng, nên lặng lẽ lui ra ngoài. Trương Vạn Cường đứng cách xa cửa cung canh gác. Thái hoàng thái hậu thở dốc một chút rồi hỏi Khang Hi: "Con thấy Sách Ngạch Đồ người này thế nào?".
"Bẩm lão Phật gia, trước năm Khang Hi thứ mười sáu, ông ta có chút cậy công kiêu ngạo, mấy năm gần đây đã thu liễm hơn rồi...".
"Còn Minh Châu thì sao?".
"Minh Châu cũng là người có công, nhưng mấy năm nay ông ta làm loạn ở bên dưới, có không ít người đàn hặc. Cháu sợ triều chính không ổn, bất lợi cho quốc gia, nên tạm thời ép xuống...".
Lúc này, Thái hoàng thái hậu không những tỉnh táo mà tư duy còn rất nhanh nhạy. Bà đã nghe ra ẩn ý từ câu trả lời ngắn gọn này của Khang Hi. Bà xốc lại tinh thần, nhìn chằm chằm vào Khang Hi nói: "Ừm, con trong lòng đã có tính toán, ta cũng yên tâm rồi. Thế nhưng, con thông minh thì có thừa nhưng lại quá đỗi trung hậu. Ta hỏi con, năm ngoái ta bảo người của Thận Hình Ty Nội vụ phủ dùng rượu độc xử tử một cung nữ ở Từ Ninh Cung tên là Bạch Thái, con có biết vì sao không?".
"Ồ, cháu nghe nói, cô ta hát bài "Tiểu quả phụ thượng phần" (Góa phụ nhỏ viếng mộ) khi lão Phật gia đang trai giới, nên bị xử tử".
"Đâu có! Đó là ta bảo bọn họ nói như vậy thôi. Trong phòng của cô ta, người ta tìm thấy một con quỷ mặt xanh khắc bằng gỗ đào, trên đó viết bát tự ngày sinh của Hoàng thượng, còn dùng đinh ghim lên".
Khang Hi kinh ngạc: "A?! Có chuyện như vậy sao? Là ai chủ mưu?".
"Ta ra lệnh cho người dùng bàn là nóng đốt khắp người cô ta, cô ta cũng không khai ra. Còn trong cung của Thái tử, cũng tìm thấy hình nhân gỗ đào như vậy, cũng không tìm ra kẻ chủ mưu. Vì thế, ta bảo Trương Vạn Cường thay toàn bộ thái giám, cung nữ ở đó. Mấy việc này ta không nói cho con biết, vì sợ con nổi nóng lại gây ra đại án, làm chấn động thiên hạ. Dù sao thì tà không thắng chính, bọn chúng không lật đổ được bà cháu ta đâu. Thế nhưng, ta đi rồi, bất kể việc gì, con cũng phải tự mình quyết định, nếu có sơ suất, bảo ta làm sao xuống suối vàng gặp liệt tổ liệt tông đây...".
Khang Hi đứng dậy, nghiến răng suy nghĩ một hồi lâu, quay lại đắp lại chăn cho Thái hoàng thái hậu, vén lại góc chăn, an ủi: "Lão Phật gia, người sức khỏe không tốt, nói nhiều sẽ tổn hại tinh thần. Hôm nay cháu đã hiểu rõ rồi, thì không có việc gì là không xử lý được. Người cứ yên tâm nghỉ ngơi, đợi người khỏe lại, cháu sẽ làm vài việc, nhất định khiến lão Phật gia hài lòng". Nói xong, ngài phủ phục dưới đất dập đầu, quay người gọi ra ngoài: "Trương Vạn Cường, vào đây! Truyền chỉ của trẫm, lão Phật gia chỉ là cảm gió nhẹ, không có bệnh gì nặng, bảo người trong cung ngoài cung không cần phải túc trực bên cạnh. Ai tới thỉnh an, cứ ở bên ngoài dập đầu là được. Ngươi chọn cho trẫm mấy cung nữ lão luyện hiểu quy củ, phân ban túc trực bên cạnh lão Phật gia, nghe rõ chưa?".
"Tuân lệnh!".
Từ biệt Thái hoàng thái hậu, Khang Hi trở về Dưỡng Tâm Điện, tựa vào ghế nằm, lặng lẽ suy nghĩ. Thấy Lý Đức Toàn ôm một hộp tấu chương đi vào, Khang Hi hỏi: "Có việc gì vậy?".
"Bẩm chủ tử, nô tài vừa từ Thượng thư phòng về. Các đại thần đều đã về rồi, chỉ còn Hùng Tứ Lý đang trực. Nô tài không nghe thấy họ nói có việc gì lớn, chỉ nghe thấy lúc Minh Châu chuẩn bị về, nói ngày kia là đại thọ năm mươi tuổi của ông ta. Hùng đại nhân khuyên ông ta, nói Thái hoàng thái hậu đang không khỏe, bảo ông ta đừng tổ chức linh đình. Ngoài ra... không còn gì nữa ạ".
Khang Hi mỉm cười, đứng dậy: "Ồ, đại thọ năm mươi của Minh Châu sắp tới rồi. Tốt lắm, trẫm đã hứa với ông ta là sẽ viết cho ông ta một bức hoành phi chúc mừng". Nói rồi ngài bước tới án thư, vung bút viết bốn chữ lớn: "Lượng Phụ Lương Chúc". "Lý Đức Toàn, cầm lấy đi ban cho Minh Châu, nói trẫm cho ông ta nghỉ ba ngày. Ngoài ra... ngươi đến Thượng thư phòng truyền chỉ, bảo Hùng Tứ Lý tới, nói trẫm có mật chỉ cho ông ta".
Minh Châu không nghe theo lời khuyên của Hùng Tứ Lý, tổ chức đại thọ năm mươi tuổi vô cùng náo nhiệt. Ông ta nghĩ thầm, Hoàng thượng còn ban hoành phi cho mình cơ mà, cái thể diện này không nhân cơ hội này mà phô trương thì còn đợi đến bao giờ nữa. Riêng thiệp mời thọ yến đã phát ra hơn một ngàn tấm. Phàm là quan lại ở kinh thành, bất kể chức vụ lớn nhỏ, đều mời hết! Ông ta mời như vậy không sao, nhưng ai dám tới ăn mì thọ mà không quà cáp chứ, chà, người tặng lễ xếp hàng dài. Quản gia phủ Minh Châu bận đến mức không có cả thời gian ăn uống. Quà tặng bày ra tận hành lang, thực sự là chất cao như núi. Ngày thọ yến, phủ Minh Châu bày hơn một trăm bàn tiệc. Khách khứa tới đều phải hành lễ trước chữ của Hoàng thượng ban. Chỉ thấy bốn chữ Lệ thư mạnh mẽ "Lượng Phụ Lương Chúc" treo cao giữa đại sảnh, mực bóng loáng, khiến người ta vô cùng ngưỡng mộ. Trên tiệc rượu, Minh Châu mặt mày hớn hở, đi từng bàn chúc rượu, lại nghe những lời nịnh hót của các quan lại, vô cùng đắc ý. Yến tiệc này kéo dài từ trưa đến tận giờ Thân, khách khứa đều đã có chút hơi men nhưng vẫn chưa thỏa mãn. Người thì chơi trò đoán số, người thì ồn ào quát tháo, kẻ thì ép rượu, kẻ thì lười biếng không chịu ăn, náo loạn cả lên. Đúng lúc này, người giữ cửa đột nhiên vào bẩm báo, nói Đô ngự sử Quách Tú tới chúc thọ. Minh Châu sững sờ, ừm, Quách Tú này xưa nay không bao giờ dự tiệc của bất kỳ ai, hôm nay thiệp đã gửi cho ông ta, ông ta không tới, sao tiệc sắp tan rồi ông ta lại tới chứ! Đã tới thì không thể thất lễ, ông ta vội vàng đón ra ngoài. Quách Tú đã hiên ngang bước vào, chỉ thấy ông ta chắp tay: "Minh tướng, chúc mừng đại thọ năm mươi tuổi, Quách Tú tới muộn, mong được thứ lỗi".
"Ấy, Quách đại nhân, ngài nói gì vậy. Mời, mời vào tiệc. Tới muộn là phải phạt rượu đấy!".
"Minh tướng, xin đừng khách sáo, người xưa có câu, quân tử yêu người bằng đức. Tôi là người chưa bao giờ nịnh hót, ông biết mà. Hôm nay, có một bài văn, mừng thọ ông, toàn là lời thật lòng, xin đừng trách!".
"Đâu có, đâu có, Quách đại nhân là bậc học giả uyên bác, đã có tác phẩm hay, sao không để mọi người cùng thưởng thức?".
"À, được thôi, Quách mỗ cũng đang muốn như vậy!". Quách Tú nói rồi, từ trong tay áo lấy ra một xấp giấy, lớn tiếng đọc: "Thần Quách Tú tấu xin đàn hặc Minh Châu tham ô hối lộ, kết bè kết đảng, làm hại đất nước hại dân".
Không chỉ Minh Châu, hơn một ngàn khách khứa trước tiệc đều sững sờ, a! Sao Quách Tú lại chọn cơ hội này để đàn hặc Minh Châu chứ? Không đợi mọi người kịp hoàn hồn, Quách Tú đã sang sảng đọc tiếp với giọng vang như chuông. Tấu chương này dài vạn chữ, liệt kê mười tội trạng của Minh Châu, ngay cả Cao Sĩ Kỳ, Dư Quốc Trụ, Từ Càn Học... cũng bị lôi vào. Cuối cùng còn xin Hoàng thượng "lập tức bãi chức, trị tội theo luật".
Khi Quách Tú mới bắt đầu đọc, Minh Châu đúng là giật mình, nhưng lập tức trấn tĩnh lại. Được thôi, trước mặt hơn một ngàn quan kinh thành này, nếu mình lộ ra chút sợ hãi, thì đến ngày mai, tấu chương đàn hặc chẳng bay tới như tuyết rơi sao! Không được, mình không thể để âm mưu của Quách Tú thành công, dù chết cũng phải chống đỡ. Thế nhưng, lại nghĩ, cái ý tưởng tồi tệ này là ai bày ra? Ông ta nhìn Sách Ngạch Đồ, lại nhìn Hùng Tứ Lý, ngoài hai người này ra, không ai có lá gan đó, thế thì sẽ là ai chứ?
Thực ra, đạo diễn đứng sau màn kịch này chính là Khang Hi Hoàng thượng. Hùng Tứ Lý chẳng qua chỉ là phụng chỉ làm việc mà thôi. Vốn dĩ ông ta chọn Ngự sử Bạch Minh Kinh, đã bàn bạc xong xuôi, nhưng tới lúc đó thì Bạch Minh Kinh lại sợ hãi. Không ngờ Quách Tú lại tự mình nhảy ra, mà còn lôi kéo thêm bao nhiêu người, thế này, thế này làm sao kết thúc đây?
Quách Tú đọc xong, mỉm cười với Minh Châu: "Minh tướng, học trò vừa nói rồi, tôi không biết nịnh hót, chỉ biết nói theo sự thật. Không biết Minh tướng thấy bài văn này thế nào?".
Minh Châu cố nén cơn giận và nỗi sợ hãi trong lòng, thản nhiên cười nói: "Hay, bài văn hay, lá gan lớn, ta mời ngài một chén!".
Cao Sĩ Kỳ đứng bên cạnh, vừa nghe thấy tên mình trong tấu chương, ban đầu cũng kinh ngạc tột độ. Thế nhưng thấy Minh Châu thản nhiên như vậy, mình cũng không thể tỏ ra hèn nhát. Lúc này, ông ta cũng rót một chén rượu, cười hì hì bước tới: "Quách ngự sử, ông tham hặc hay lắm, thật đáng uống một chén lớn, tới đây, lão Cao tôi bồi ông một chén!".
Quách Tú cười tươi nhận lấy chén rượu, đưa lên mũi ngửi rồi nói: "Hai vị đại nhân, Quách Tú vốn là người nổi tiếng "Quách gan dạ", hôm nay mạo phạm hai vị tướng gia, tội không nhẹ. Rượu này tôi ngửi rồi, tuy rất thơm, chỉ là dính đầy mỡ máu của dân, lại mang theo mùi tanh của máu——" nói rồi cụng chén với Cao Sĩ Kỳ, "bộp" một tiếng, ném chén rượu xuống đất, chắp tay nói "Xin thứ lỗi cho Quách mỗ thất lễ!", rồi quay người hiên ngang bỏ đi!
Quách Tú đi rồi, bữa tiệc lập tức mất vui. Rượu không ai uống, mì thọ đã chuẩn bị sẵn cũng chẳng ai buồn động đến, ai còn tâm trí đâu. Những kẻ có liên quan tới Minh Châu đều đang nghĩ cách làm sao để bảo toàn bản thân; những kẻ vốn không ưa Minh Châu thì đang suy tính làm sao để cũng viết một bản tấu tham hặc. Nói tóm lại, bất kể là phe nào, phái nào, đều đang nghĩ tới một chuyện: bản tấu này của Quách Tú dâng lên Hoàng thượng sẽ bị xử lý thế nào! Vì thế, có người lên nói vài câu khuyên giải rồi lấy cớ rời tiệc, có người còn dứt khoát hơn, không chào hỏi gì mà bỏ đi luôn. Trong chớp mắt, đại sảnh rộng lớn chỉ còn lại chén đĩa ngổn ngang, thức ăn thừa và ba vị đại thần Thượng thư phòng là Hùng Tứ Lý, Sách Ngạch Đồ, Cao Sĩ Kỳ.
Hùng Tứ Lý biết rõ đầu đuôi sự việc, người khác không nói, ông ta phải nói: "Này, Minh hiền đệ, phải bảo trọng nhé. Hãy suy nghĩ kỹ xem làm thế nào để giải trình việc này với Hoàng thượng. Nếu thực sự có chuyện gì ngoài ý muốn, đệ yên tâm, chúng ta đều sẽ lên tiếng".
Minh Châu "vụt" một cái đứng dậy: "Bảo trọng, ta bảo trọng thế nào được? Thay vì ngồi đây đợi chết, chi bằng tới gặp Hoàng thượng ngay bây giờ. Các vị có sẵn lòng đi cùng ta một chuyến không?".
Lời đã nói tới mức này, ba người kia cũng không thể thoái thác, bốn người lập tức tới cửa cung, dâng thẻ bài xin kiến giá Hoàng thượng. Một lát sau, thánh chỉ truyền ra: "Minh Châu đại thọ năm mươi, trẫm đã cho nghỉ ba ngày, hãy nghỉ ngơi cho tốt. Ba người còn lại, lập tức vào gặp".