"Phương Dật, cậu đúng là thần thánh thật đấy, ngay cả ở Phan Gia Viên mà cũng nhặt được món hời lớn thế này sao?"
Sau khi bước ra khỏi cửa hàng của Ngô Thiên Bảo, ánh mắt Hoa Tử Dịch nhìn Phương Dật đã lộ rõ vẻ sùng bái. Dù anh cảm thấy Phương Dật chắc hẳn là gặp vận may lớn, nhưng vận may cũng là một phần của thực lực. Mỗi ngày có biết bao nhiêu người dạo Phan Gia Viên, tại sao những người đó lại không gặp được vận may như vậy?
"Mười vạn tệ, cũng không tính là món hời lớn gì đâu nhỉ?" Phương Dật cười híp mắt nói: "Tôi nghe nói từng có người bỏ ra vài chục tệ mà vớ được món đồ sứ quan diêu thời Khang Hy, quay tay một cái đã bán được mấy chục vạn rồi. So với người đó, tôi còn kém xa lắm..."
"Thôi đi cậu, biết đủ là được rồi..."
Hoa Tử Dịch ngắt lời Phương Dật: "Chuyện cậu nói tôi biết, đó là chuyện của những năm tám mươi. Thời đó chẳng có mấy ai quan tâm đến cổ vật, hơn nữa cũng không phải quay tay cái là bán được mấy chục vạn, mà là đến tận năm ngoái mới đem ra sàn đấu giá bán được..."
Đối với những chuyện xảy ra ở kinh thành, Hoa Tử Dịch đương nhiên nắm rõ như lòng bàn tay. Chuyện Phương Dật kể đúng là có thật, nhưng sau khi qua lời kể của nhiều người, câu chuyện đã trở nên đầy màu sắc truyền kỳ.
Món đồ sứ quan diêu thời Khang Hy đó đúng là được mua với giá sáu mươi tệ, nhưng lúc bấy giờ Phan Gia Viên không có quy mô và danh tiếng như hiện tại. Khi đó nó vừa mới đổi tên từ Phan Gia Diêu thành Phan Gia Viên, là một "quỷ thị" khá nổi tiếng ở kinh thành xưa.
Cái gọi là "quỷ thị", ý chỉ những khu chợ bắt đầu từ nửa đêm đến tận lúc trời sáng, hễ trời sáng là dẹp hàng, dân chúng thường gọi là "buôn bán trải chiếu giữa đêm khuya".
Nghe nói từ cuối thời Thanh đến thời Dân Quốc, quỷ thị ở kinh thành rất nổi danh, như "Đông Hiểu Thị" ngoài Sùng Văn Môn, "Dạ Thị" ngoài Tuyên Vũ Môn và "Hiểu Thị" ngoài Đức Thắng Môn. Quỷ thị ở Phan Gia Viên thuộc loại quỷ thị kinh thành xưa, tầm bốn giờ sáng đã có người vào chợ.
Về nguồn gốc của quỷ thị, trong dân gian có ba cách giải thích. Cách thứ nhất cho rằng vào cuối thời Thanh, thời cuộc loạn lạc, quốc gia sắp diệt vong. Ngay cả hoàng đế còn chẳng giữ nổi, huống chi là bề tôi. Nhiều quý tộc nhà Thanh, phú hào sa sút sau khi gia cảnh lụi bại không còn cách nào kiếm sống, đành phải bán đi chút gia sản tổ tiên để lại mà sống qua ngày.
Nhưng những người này dù sao cũng từng hiển hách một thời, làm sao hạ mình xuống để mất mặt được? Thế nên họ tranh thủ lúc trời chưa sáng, ánh sáng lờ mờ, mang cổ vật lén lút ra ven đường bày bán. Vừa tránh được người quen lại vừa làm được giao dịch. Kinh thành là hoàng thành, năm xưa là nơi tập trung của các quan lại thế gia, số quý tộc sa sút không hề ít, lâu dần thành nếp, hình thành nên "quỷ thị".
Cách giải thích thứ hai là vì quỷ thị họp rất sớm, trời chưa sáng, lại không có đèn điện, tối om như mực. Người nghèo thắp đá lửa, người giàu xách đèn lồng, dưới ánh sáng leo lét như ma trơi, bóng người đi lại chập chờn, không rõ thực hư. Quỷ có hay không thì chưa biết, nhưng "quỷ khí" thì đã có sẵn rồi.
Thêm vào đó, nhiều kẻ đạo chích cũng đến đây để tẩu tán những món đồ không minh bạch, lại có những kẻ làm giả tranh thủ lúc hỗn loạn để bán đồ nhái, cả hai đều lén lút ám muội. Tóm lại, trước sau đều không thoát khỏi chữ "quỷ", từ đó mà có tên gọi quỷ thị.
Cách giải thích thứ ba thì mang màu sắc thần bí hơn. Truyền thuyết kể rằng quỷ thị họp vào lúc âm dương giao thoa, xung quanh chập chờn bóng tối, người này không nhìn rõ người kia, nên không chỉ có người dương thế qua lại, mà còn thu hút cả sự quan tâm của thần quỷ âm giới. Lỡ đâu vừa mua đồ từ tay bạn xong, quay đi quay lại đã thấy người đó nằm trong quan tài rồi.
Trong các câu chuyện truyền thuyết, thú vị nhất là chuyện Từ Hy Thái Hậu mừng thọ sáu mươi tuổi, bắt các thái giám chuẩn bị áo lông cáo đúng lúc quốc nạn đương đầu, lấy đâu ra da cáo mà dâng lên? Thấy thời hạn sắp đến, đầu sắp lìa khỏi cổ, thái giám bất lực đành thắp hương bái Phật, không ngờ lại được linh ứng. Nhân lúc đêm tối, hắn mua được tấm da cáo cực phẩm ở quỷ thị. Người bán hàng vừa quay lưng đã hóa thành làn khói xanh biến mất, sờ vào tấm da cáo vẫn còn ấm nóng. Thái giám lúc này mới tỉnh ngộ rằng người bán hàng chính là hồ tiên hóa thân, lột da cứu mạng hắn.
Rốt cuộc quỷ thị hình thành theo cách nào thì nay đã không thể khảo chứng, nhưng món đồ sứ kia đúng là do một vị giáo sư vừa được minh oan dùng tiền lương bồi thường mua được từ quỷ thị Phan Gia Viên.
Tuy nhiên, vào đầu những năm tám mươi, một xu có thể mua được hai que kem, sáu mươi tệ tương đương với tiền lương một tháng rưỡi của một công nhân bậc tám, giá trị ngang với hơn sáu ngàn tệ bây giờ. Người bình thường vốn không có tiền nhàn rỗi để sưu tầm cổ vật, nên việc đó có được coi là nhặt được món hời hay không vẫn còn là chuyện bàn cãi.
Hơn nữa, sau khi mua được món đồ sứ quan diêu này, vị giáo sư đó cũng không hề bán đi mà giữ ở nhà để tự thưởng thức. Mãi đến giữa những năm chín mươi, sau khi ông qua đời, con trai ông mới đem ra bán.
Vì thế nếu xét kỹ, câu chuyện nhặt được món hời lan truyền ở Phan Gia Viên này, sự thật không hề đẹp đẽ như mọi người tưởng tượng.
Chưa nói đến việc đầu những năm tám mươi có ai chịu bỏ ra số tiền lớn như vậy để mua cổ vật hay không, ngay cả khi có và giám định là đồ thật, thì trong thời đại đó muốn bán giá cao cũng gần như là không thể. Một món hời mà phải mất gần hai mươi năm mới bán được, tin rằng chẳng có mấy người muốn nhặt.
"Thì ra là vậy sao? Vậy món hời tôi nhặt được này đúng là không nhỏ nhỉ?"
Nghe Hoa Tử Dịch giải thích, Phương Dật mới hiểu ra. Hóa ra những câu chuyện trong giới cổ vật nhiều lời đồn thổi quả thật không phải nói suông, một vụ nhặt đồ hời mà diễn dịch ra đủ loại phiên bản, còn lừa được bao nhiêu người trong nghề.
"Nhỏ? Ở Phan Gia Viên này, có mấy ai nhặt được món hời lớn như cậu?" Hoa Tử Dịch bực bội nói: "Chuyện này mà truyền ra ngoài, đảm bảo ngày mai cả giới cổ vật kinh thành đều biết tên cậu. Cái danh này nổi còn nhanh hơn cả lên tivi nữa..."
"Ừm? Anh Hoa, vậy anh có cách nào truyền chuyện này ra ngoài không?" Phương Dật đảo mắt, cười híp mắt nói.
"Truyền ra ngoài? Đầu óc cậu không bị sốt đấy chứ?"
Hoa Tử Dịch nhìn Phương Dật đầy nghi hoặc: "Thứ cậu mua bán là đồ đồng đấy, tuy trên giấy tờ không ghi rõ, nhưng cảnh sát nếu muốn điều tra thì vẫn có cách. Chẳng việc gì phải vì mười vạn tệ với chút danh tiếng hão mà rước họa vào thân cả."
Là một phần quan trọng của văn vật và cổ vật, việc mua bán đồ đồng tuy bị nhà nước nghiêm cấm, nhưng trong giới cổ vật vẫn không thể dẹp bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, người khác mua bán đồ đồng đều là hành vi lén lút, rất ít ai sau khi giao dịch xong lại đi rêu rao, đây là kiểu làm ăn "ngậm miệng ăn tiền".
Món đồ đồng Phương Dật bán tuy trông như một món đồ có truyền thừa, nhưng Phương Dật thực sự mua ở sạp hàng tại Phan Gia Viên, sau đó quay tay bán lại. Xét theo một ý nghĩa nào đó, hành vi của cậu đã là vi phạm pháp luật. Chuyện này có thể lớn có thể nhỏ, nếu nghiêm trọng có khi phải ngồi tù vài năm.
"Không sao đâu anh Hoa, tôi chỉ bán một cái chân nến thôi, cũng không ghi rõ là chân nến bằng đồng, càng không nói đó là văn vật..."
Phương Dật phẩy tay tỏ vẻ không quan tâm: "Bây giờ muốn nổi tiếng khó lắm, tôi thấy mấy ngôi sao muốn nổi tiếng mà phát điên lên được. Chúng ta có điều kiện tốt thế này, sao không quảng bá một chút? Anh Hoa, anh cứ nhiệt tình truyền chuyện này ra ngoài đi, để cả giới cổ vật toàn quốc biết càng tốt..."
"Này, tôi hỏi cậu câu nào là thật, câu nào là giả vậy?"
Thái độ của Phương Dật khiến Hoa Tử Dịch không thể hiểu nổi. Anh tin Phương Dật không thể không biết mức độ nghiêm trọng của việc này. Đến lúc đó dù có nể mặt Tôn Liên Đạt mà không bị kết án tù, thì mười vạn tệ đó chắc chắn cũng không giữ được.
"Tôi nói đều là thật đấy, anh Hoa, anh cứ yên tâm mà truyền đi..." Phương Dật nói với giọng rất kiên định, sắc mặt cũng trở nên nghiêm túc. Cậu thực sự không phải đang đùa với Hoa Tử Dịch, mà muốn thông qua việc này, cho Ngô Thiên Bảo một bài học nhớ đời.
"Phải rồi anh Hoa, lúc truyền tin, đừng nói là bán mười vạn, anh cứ nói là bán mấy chục vạn đi..."
Trong lòng Phương Dật nảy ra một ý đồ xấu. Cậu có thể thấy, sở dĩ Ngô Thiên Bảo khao khát cái chân nến đồng này như vậy, có khi là đã có khách hàng chờ sẵn. Mình cứ thuận tay nâng giá cho hắn, nếu Ngô Thiên Bảo thật sự bán được, thì lúc đó trò vui mới thực sự bắt đầu.
"Cậu không sợ cảnh sát tìm đến tính sổ à?" Hoa Tử Dịch cũng trở nên nghiêm túc, anh thấy rõ Phương Dật không hề đùa giỡn.
"Không sợ, tôi dù sao cũng chỉ bán một món đồ thủ công mỹ nghệ, sợ cảnh sát cái gì chứ!"
Phương Dật thật sự không sợ, vì lúc cuối cùng giao cái chân nến đồng cho Ngô Thiên Bảo, Phương Dật đã rút toàn bộ thần thức và chân nguyên mà mình truyền vào để thay đổi bản chất của chân nến ra rồi. Cái chân nến đó bây giờ nếu lấy ra xem, chính là món đồ giả lộ liễu.
Còn việc Ngô Thiên Bảo sẽ có sắc mặt thế nào khi nhìn thấy cái chân nến đó lần nữa, thì không phải là việc Phương Dật cần quan tâm. Nếu hắn có bản lĩnh lừa người khác rằng đó là đồ thật, thì Phương Dật chỉ có thể nói người mua là kẻ mù mắt, đáng đời bị lừa.