"Hổ ca, không đến mức khoa trương thế chứ?"
Lời của A Hổ làm Phương Dật toát mồ hôi hột. Bọn họ đến mua đồ chứ có phải đi đánh trận đâu, hơn nữa đây còn là địa bàn của quân chính phủ. Nếu thực sự xảy ra chuyện gì, Phương Dật cũng không cho rằng mấy chiếc xe và vài cây súng của họ có thể giải quyết được vấn đề gì.
"Khoa trương? Chẳng khoa trương chút nào..."
A Hổ lắc đầu, nói: "Phương Dật, cậu có biết không, ngay năm ngoái thôi, Bành lão đại còn đánh nhau sống chết với quân chính phủ đấy. Đối với đám chính trị gia này, chúng ta cứ đề phòng một chút vẫn tốt hơn..."
A Hổ luyện quyền từ nhỏ, sau này lại theo Bành Bân đi đánh trận, khói lửa chiến tranh đã sớm ngấm sâu vào tận xương tủy. Nếu không phải vì phải đi theo bảo vệ Phương Dật, dù thế nào A Hổ cũng không chịu giao súng cho người khác. Cậu ta rất ghét cảm giác vận mệnh của mình bị kẻ khác nắm giữ.
"Hổ ca, có đề phòng cũng không cần đề phòng quân chính phủ..."
Phương Dật lắc đầu, nói: "Đợt công khai đấu giá này là do họ tổ chức, người đến đều là các phú hào từ khắp nơi trên thế giới. Nếu chính phủ muốn giở trò gì, chỉ riêng áp lực quốc tế thôi cũng đủ khiến họ sụp đổ rồi..."
Phương Dật không lo chính phủ Myanmar giở trò, nhưng đợt đấu giá này toàn giao dịch bằng tiền mặt, cậu phải đề phòng những lực lượng vũ trang địa phương đến cướp bóc. Đối với những kẻ nghèo rớt mồng tơi chỉ còn lại súng ống như bọn chúng, hội đấu giá phỉ thúy hiện tại chẳng khác nào một hũ chiêu tài đang tỏa ra ánh vàng lấp lánh.
"Tôi không quản nhiều thế, Bân ca bảo tôi bảo vệ tốt cho cậu, thì tôi phải đi theo cậu..."
Thực ra đối với A Hổ, muốn giết người thì không nhất thiết phải dùng súng. Phải biết rằng, cậu ta từng là nhân vật phong vân trên võ đài, số người chết dưới tay cậu ta có khi còn nhiều hơn cả Bành Bân. Nếu toàn bộ hội đấu giá không cho phép mang súng vào, A Hổ vẫn có ưu thế rất lớn.
"Hổ ca, anh thấy tôi là người cần được bảo vệ sao?"
Nghe A Hổ cứ mở miệng là đòi bảo vệ mình, Phương Dật cảm thấy rất không quen. Dù sao cậu cũng là võ giả cảnh giới Luyện Khí Hóa Thần, dù là thời xưa hay hiện tại, đó đều là bậc đại cao thủ cấp tông sư.
"Phương Dật, tôi biết cậu đấu võ rất giỏi..."
A Hổ nhìn Phương Dật, thản nhiên nói: "Nhưng giết người và đấu võ là hai chuyện khác nhau. Tôi đánh không lại cậu, nhưng nếu đơn thuần muốn giết cậu, Phương Dật, cậu không phải đối thủ của tôi..."
Khi nói ra những lời này, trên mặt A Hổ tràn đầy tự tin. Sự tự tin đó bắt nguồn từ những kẻ từng chết dưới tay cậu ta. Đối với kiểu người như A Hổ, dù Phương Dật có đánh ngang tay với Bành Bân khi tỉ thí, cũng chưa đủ để khiến cậu ta tâm phục khẩu phục.
"Được rồi, Hổ ca, vậy tính mạng của tôi đành giao cho anh vậy..." Phương Dật mỉm cười, cũng không tranh cãi với A Hổ. So về kỹ năng giết người, có lẽ cậu không bằng những người bước ra từ biển máu núi xác như A Hổ, nhưng Phương Dật lại có khả năng "vị văn tiên giác", tránh né nguy hiểm từ trước.
"Đi thôi, bốn người chúng ta chen chúc lên chiếc xe đó..." Thấy binh lính đã kiểm tra xe xong, Phương Dật kéo A Hổ đi tới.
"Phương Dật, các cậu đừng lên xe vội, còn phải kiểm tra thân thể nữa..."
Thấy Phương Dật kéo cửa xe định leo lên, Trần Khải vội vàng gọi cậu lại. Đối với khâu kiểm tra an ninh gắt gao lần này, Trần Khải không hề bất mãn, bởi kiểm tra càng nghiêm ngặt, sự an toàn của họ trong quá trình giao dịch càng được đảm bảo.
Có lẽ cảm ứng được sát khí bức người trên người A Hổ, khi kiểm tra cậu ta, mấy họng súng đồng loạt chĩa vào người. Kiểm tra đi kiểm tra lại mấy lần, thậm chí còn bắt cởi cả giày, xe của họ mới được cho qua.
Tuy nhiên, xe chỉ chạy vào trong hơn hai trăm mét đã bị binh lính cầm súng dẫn vào một bãi đỗ xe. Trần Khải xách túi gọi mọi người xuống xe, còn lão Tô thì ở lại trông xe.
"Hội đấu giá năm nay, người đến không nhiều lắm nhỉ..." Dư Tuyên xuống xe nhìn quanh những chiếc xe xung quanh. Những năm trước, bãi đỗ xe này gần như chật kín, nhưng hôm nay chỉ lác đác hai ba mươi chiếc, kém xa sự náo nhiệt của các kỳ trước.
"Myanmar loạn thế này, mấy tay buôn nhỏ lẻ chắc không dám tới đâu..."
Trần Khải gật đầu, vẻ mặt nghiêm trọng nói: "Người đến lần này sợ là đều muốn tích trữ hàng. Dư thúc, cháu chỉ còn biết trông cậy cả vào bác thôi..."
"Khải ca, cậu nói thế là sao? Trúng thầu hay không là do tiền, thầy tôi cũng đâu có cách nào?"
Phương Dật hơi khó hiểu. Sau khi biết mối quan hệ giữa ám tiêu (đấu thầu kín) và minh tiêu (đấu thầu công khai), trong mắt Phương Dật, hội đấu giá vẫn là cuộc chơi của thực lực, ai nhiều tiền hơn thì người đó cười đến cuối cùng.
"Phương Dật, cược đá chưa bao giờ là cuộc chơi chỉ dựa vào tiền..."
Trần Khải lắc đầu, nghiêm túc nói: "Dựa vào tiền cũng có, nhưng đó là với minh liệu (hàng công khai), tức là loại đã cắt mở hoàn toàn. Còn với bán đổ (hàng đã cắt một phần) và toàn đổ (hàng chưa cắt), thì phải dựa vào nhãn lực. Lần này tôi định đầu tư nhiều vào nguyên liệu toàn đổ, không dựa vào Dư thúc thì dựa vào ai?"
Hóa ra, tại hội đấu giá phỉ thúy, ngoài ám tiêu và minh tiêu, nguyên liệu phỉ thúy còn chia làm hai loại: bán đổ và toàn đổ.
Bán đổ là loại mà chủ mỏ sau khi khai thác đã cắt đôi hoặc mở một "cửa sổ" nhỏ, để lộ phần thịt phỉ thúy bên trong. Tất nhiên, lộ bao nhiêu còn tùy vào kích thước cửa sổ.
Bán đổ là cược xem phỉ thúy bên trong có đầy đặn không, có bị nứt vỡ không. Có rất nhiều miếng bán đổ nhìn cửa sổ rất đẹp, nhưng cắt sâu vào bên trong lại trống rỗng, khiến người ta tán gia bại sản, tính chất cược rất lớn.
Nhưng so với toàn đổ, rủi ro của bán đổ vẫn nhỏ hơn nhiều. Toàn đổ nhìn từ bên ngoài chỉ là một tảng đá, phải là người cực kỳ kinh nghiệm mới có thể dựa vào màu sắc và vân đá để phán đoán bên trong có phỉ thúy hay không.
Người ta vẫn nói "thần tiên khó đoán tấc ngọc", đối với nguyên liệu toàn đổ, ngay cả Dư Tuyên cũng không dám khẳng định chắc chắn 100%. Hơn nữa, dù đoán được bên trong có phỉ thúy, cũng khó mà xác định được phẩm chất, rủi ro lớn hơn nhiều so với bán đổ.
Sở dĩ Trần Khải nói vậy là vì cậu ta cảm thấy với hàng bán đổ, vốn liếng không thể cạnh tranh lại các thương nhân trang sức xuyên quốc gia, nên muốn tập trung vào hàng toàn đổ.
Dù sao các thương nhân thực lực thật sự thà bỏ thêm chút tiền mua hàng bán đổ chứ không muốn mạo hiểm với toàn đổ. Trước đây Trần Khải cũng làm vậy. Người mua hàng toàn đổ đa phần là dân cược đá chuyên nghiệp muốn đổi đời sau một đêm hoặc các thương nhân phỉ thúy nhỏ lẻ.
"Phương Dật, hàng toàn đổ cậu cứ xem cho biết thôi, lát nữa tôi xem mấy miếng bán đổ cho cậu chơi thử..." Mục đích Dư Tuyên đưa Phương Dật đến là để cậu cảm nhận cách giao dịch phỉ thúy, chứ không phải muốn đào tạo cậu thành một con bạc.
Với trình độ của Dư Tuyên, chỉ cần không tranh giành những miếng bán đổ quá xuất sắc, những miếng phẩm chất kém hơn một chút, ông vẫn có tự tin lấy được. Hơn nữa theo phân tích của Dư Tuyên, vài năm tới giá phỉ thúy vẫn sẽ tăng, số nguyên liệu Phương Dật mua với giá 500 nghìn đô la, vài năm sau có khi tăng giá gấp mấy lần.
"Hì hì, thầy, con nghe thầy..." Phương Dật vốn chẳng biết gì về cược đá, cậu biết mình đến đây là để học hỏi, cứ nhìn nhiều nói ít là được.
Vừa nói, mấy người đã tới đại sảnh giao dịch. Cảnh vệ ở đây càng nghiêm ngặt hơn, cứ cách ba năm bước lại có một binh lính súng ống đầy đủ đứng canh, ánh mắt liên tục dò xét nhóm người Phương Dật. Người nào gan nhỏ một chút, có khi chẳng dám bước vào.
"Phương Dật, Dư thúc, hai người đợi chút, cháu đi làm thủ tục..." Trần Khải dặn dò một tiếng rồi đi về phía cửa sổ kính. Ở lối vào có treo một tấm biển, trên viết bằng cả tiếng Trung và tiếng Anh dòng chữ "Lối vào cho thương nhân trang sức nước ngoài" kèm theo mũi tên chỉ dẫn.
"Người nước ngoài chỉ chuộng đá quý, không rành phỉ thúy lắm. Nói đi cũng phải nói lại, phỉ thúy cũng là nhờ vị Lão Phật gia năm xưa lăng xê mới nổi lên đấy..."
Thấy Phương Dật nhìn chằm chằm vào tấm biển, Dư Tuyên không khỏi bật cười: "Nơi tiêu thụ phỉ thúy lớn nhất chính là nước ta, ngoài ra còn vài nước nhỏ ở Đông Nam Á. Thế nên biển chỉ dẫn ở đây đều là song ngữ Trung - Anh, bên trong các thùng bỏ phiếu cũng có tiếng Trung..."
Người Trung Quốc có thể coi là đã phát triển chữ "chơi" đến mức cực hạn, từ thú chơi chim chóc, chó săn của con cháu bát kỳ đến văn chơi hiện đại, đều là những thứ độc nhất vô nhị trong nước, từ đó cũng thúc đẩy kinh tế của không ít quốc gia phát triển.
Giống như hạt kim cương và hạt bồ đề phượng nhãn ở Nepal, vốn chỉ là hạt giống thực vật, chẳng đáng một xu. Nhưng khi chúng trở thành món đồ chơi trong tay người Trung Quốc, giá trị lập tức tăng vọt.
Phỉ thúy Myanmar cũng vậy, ngược dòng vài thế kỷ, phỉ thúy không có thị trường gì ở trong nước. Nhưng sau khi Từ Hy Thái Hậu cuối thời Thanh và phu nhân Tưởng Giới Thạch sắm sửa cho mình một bộ trang sức phỉ thúy, phỉ thúy lập tức trở thành loại ngọc quý giá có thể sánh ngang với Hòa Điền ngọc.