Thấy hai vị thầy vẻ mặt nghiêm trọng, Phương Dật cũng không dám lên tiếng quấy rầy. Cậu ra hiệu cho Béo và Tam Pháo đang chuẩn bị ăn cơm hãy giữ yên lặng. Về phần Mãn Quân và Triệu Hồng Đào, đương nhiên không cần Phương Dật phải nhắc nhở, ngay khi Tôn Liên Đạt và Dư Tuyên kiểm tra tượng Phật vàng, cả hai người họ đã tự giác nín thở tập trung.
Quá trình quan sát tượng Phật vàng của Tôn Liên Đạt và Dư Tuyên vô cùng chậm rãi và tỉ mỉ. Gần như từ đầu đến cuối, họ đều dùng kính lúp soi xét cẩn thận. Cuối cùng, họ còn nhờ Mãn Quân và Phương Dật phụ một tay, đặt tượng Phật nằm ngang trên bàn để quan sát kỹ phần đáy thêm một hồi lâu.
Suốt nửa tiếng đồng hồ trôi qua, Tam Pháo đã không đợi nổi nữa, đành bưng cơm nước vào trong bếp ăn. Còn Béo thì chán nản lấy điện thoại ra nhắn tin với bạn gái. Chỉ có Phương Dật, Triệu Hồng Đào và Mãn Quân là vẫn chăm chú dõi theo từng cử động của hai vị thầy.
"Thầy, có kết quả rồi ạ?"
Sau khi Tôn Liên Đạt và Dư Tuyên đặt kính lúp xuống, Phương Dật vội vàng đưa qua hai chiếc khăn nóng. Giữa tiết trời đông giá rét này, vậy mà trán Tôn Liên Đạt và Dư Tuyên đã lấm tấm mồ hôi, đủ thấy hai người họ đã dụng tâm đến mức nào.
"Tôi đoán là món đồ đó, nhưng chưa dám khẳng định chắc chắn, hay là để thầy Tôn của cậu nói đi..." Dư Tuyên nhận lấy khăn lau mặt. Sắc mặt cả hai đều lộ vẻ mệt mỏi, nhưng đôi mắt vẫn dán chặt vào tượng Phật trên bàn, như thể đang chiêm ngưỡng một món bảo vật vô giá.
"Lão Dư, mười phần thì chín là món đó rồi!" Tôn Liên Đạt dùng khăn nóng áp lên mắt một lát, sau khi bỏ khăn ra, ông lên tiếng: "Không ngờ đoạn ghi chép kia lại là thật, mà món đồ này cũng thực sự tồn tại!"
"Này, hai thầy ơi, chúng ta có thể đừng nói chuyện úp mở được không?"
Béo dừng nhắn tin, là người đầu tiên không nhịn được: "Hai thầy, tượng Phật này rốt cuộc có lai lịch gì? Bây giờ vàng giá hai trăm tệ một gram, chỉ riêng bán vàng thôi cũng được mấy triệu rồi chứ?"
"Thằng nhóc béo này, nhìn cái tầm nhìn hạn hẹp của cậu kìa..." Dư Tuyên liếc mắt lườm Béo một cái, rồi nói: "Đây là văn vật, nó đại diện cho lịch sử, đừng dùng tiền bạc để đo đếm, mà thực chất cũng không thể đo đếm được..."
"Lịch sử cái gì chứ, cháu chỉ biết nó làm bằng vàng thôi..." Béo lẩm bẩm trong miệng, nhưng không dám để hai ông lão nghe thấy.
"Thầy, thầy kể cho chúng con nghe đi, xem ra món đồ này lai lịch không nhỏ nhỉ?"
Thấy Béo bị "quê", Triệu Hồng Đào cẩn thận hỏi. Anh cũng coi là người kiến văn rộng rãi, vừa rồi cũng theo hai người quan sát kỹ lưỡng, nhưng về xuất xứ của tượng Phật này thì anh hoàn toàn không nhìn ra manh mối gì.
"Đương nhiên là lai lịch lớn rồi..." Tôn Liên Đạt gật đầu, nói với Triệu Hồng Đào: "Cậu biết bao nhiêu về lịch sử Miến Điện?"
"Lịch sử Miến Điện ạ?"
Triệu Hồng Đào nhíu mày đáp: "Miến Điện cũng được coi là một quốc gia cổ đại, lịch sử tương đương với Trung Quốc, nhưng phải đến năm 1044 sau Công nguyên mới thành lập vương triều. Vương triều đầu tiên của họ là vương triều Pagan, sau khi bị người Mông Cổ tiêu diệt thì trải qua khoảng bốn năm vương triều nữa, nhưng vẫn luôn là chư hầu của chúng ta..."
Triệu Hồng Đào từng là nghiên cứu sinh của Tôn Liên Đạt, sau đó lại lấy bằng Tiến sĩ Lịch sử, nên anh rất am hiểu lịch sử của các quốc gia trong và ngoài nước. Dù Miến Điện chỉ là một nước nhỏ, Triệu Hồng Đào vẫn trình bày mạch lạc lịch sử gần nghìn năm của họ.
"Ừm, cậu nói đúng..." Tôn Liên Đạt gật đầu. Ông vốn thích khảo sát học trò như vậy, liền quay sang nhìn Phương Dật: "Còn cậu thì sao?"
"Thầy ơi, cái này... lịch sử trong nước con còn biết chút đỉnh, chứ thầy hỏi về nước ngoài thì con chịu chết..."
Phương Dật cười khổ. Những gì cậu học đều là "đường ngang ngõ tắt", ngay cả kiến thức lịch sử cũng chỉ nghe từ miệng lão đạo sĩ, căn bản chưa từng học qua hệ thống. Trong nước còn chưa nắm rõ, lấy đâu ra biết chuyện nước ngoài.
"Cũng phải, chuyện này cậu không biết cũng là lẽ thường..."
Nghe Phương Dật nói, Tôn Liên Đạt bật cười. Ngay khi ông định nói tiếp, Triệu Hồng Đào bỗng kinh ngạc kêu lên: "Thầy, thầy... thầy sẽ không nói đây là pho tượng Phật vàng của vương triều Konbaung năm đó chứ?"
"Tại sao lại không thể là nó?" Tôn Liên Đạt mỉm cười nhìn Triệu Hồng Đào, trong lòng vô cùng hài lòng. Xem ra Triệu Hồng Đào dù bao năm làm quan trường nhưng vẫn chưa vứt bỏ hết những kiến thức học thuật ngày trước.
"Chuyện này... thật không thể tin nổi!"
Triệu Hồng Đào gần như ghé sát mắt vào tượng Phật, cẩn thận xem xét lại lần nữa, trên mặt lộ vẻ biểu cảm không thốt nên lời: "Nhìn độ phong hóa của lớp vàng này, đúng là rất có khả năng thuộc về thời đại đó..."
"Không phải có khả năng, mà là mười phần chắc chín!"
Tôn Liên Đạt khi giám định luôn nổi tiếng với phong cách suy luận táo bạo và xác thực cẩn trọng. Một khi ông đã đưa ra kết luận thì món đồ đó thật giả gần như đã định đoạt. Cho đến nay, chưa từng nghe nói Tôn Liên Đạt giám định sai bao giờ, đó cũng là lý do ông có danh tiếng lẫy lừng trong nghề.
"Thầy đã nói vậy thì chắc chắn là nó rồi..." Triệu Hồng Đào gật đầu, lần này giọng anh vô cùng khẳng định.
Tôn Liên Đạt chỉ vào tượng Phật, bảo: "Hồng Đào, cậu kể cho mấy người họ nghe đi. Món đồ này tuy không phải của nước ta, nhưng cũng có liên quan đến chúng ta, là một vật phẩm từng xuất hiện trong lịch sử..."
"Hả? Từng xuất hiện trong lịch sử ạ?" Nghe Tôn Liên Đạt nói, mắt Phương Dật và Mãn Quân bỗng sáng rực lên. Khác với Béo vốn mù tịt và không ham học hỏi, Phương Dật và Mãn Quân hiểu rõ sức nặng của câu nói này.
Trung Quốc năm nghìn năm văn hiến, trong dòng chảy lịch sử dài đằng đẵng, những món đồ có thể lưu giữ lại trọn vẹn đều có thể coi là cổ vật. Trong đó, một phần lớn đạt đến cấp bậc văn vật, số lượng không hề ít như người ta tưởng mà là rất nhiều.
Nhưng văn vật không có nghĩa là đáng tiền hay có giá trị cao. Ví dụ như tiền đồng mà các triều đại cổ đại từng phát hành với số lượng lớn cũng được coi là văn vật, nhưng xét về giá trị nghiên cứu hay giá trị thị trường thì không quý giá lắm. Hay như một số đồ gốm sứ dân gian, dù đủ cấp bậc văn vật nhưng giá trị cũng không cao.
Văn vật có giá trị thường chia làm hai loại. Một là những món được bảo tồn nguyên vẹn, thông qua nghiên cứu có thể hiểu được trạng thái đời sống xã hội cổ đại. Loại này có giá trị nghiên cứu cực cao, là món khoái khẩu của các nhà khảo cổ và sử học.
Loại văn vật thứ hai là những tác phẩm nghệ thuật cổ đại chế tác tinh xảo. Chúng vừa có giá trị nghệ thuật cao, vừa có giá trị thị trường lớn, chính là thứ mà người đời thường gọi là cổ vật.
Cổ vật lưu truyền lại không ít, nhưng giá trị cũng khác nhau. Đồ của quan phủ bao giờ cũng đắt hơn đồ dân gian, tranh chữ của danh gia cổ đại thường đắt hơn tranh chữ vô danh, còn cổ vật từng được danh nhân thưởng ngoạn lại đắt hơn những cổ vật không rõ xuất xứ.
Ngoài ra, còn một loại văn vật vừa có giá trị nghiên cứu lịch sử vừa có giá trị thị trường, đó là những món đồ từng xuất hiện trong ghi chép điển tịch. Giống như thanh Ngư Trường kiếm của Chuyên Chư đâm Ngô vương Liêu, hay thanh Câu Tiễn kiếm mà Việt vương từng sử dụng. Tất nhiên, nổi tiếng nhất vẫn là ngọc tỷ Hòa Thị Bích không biết tung tích.
Văn vật trên đời nhiều vô kể, nhưng món có thể lưu danh lại cực kỳ hiếm. Vì vậy, loại văn vật này cực kỳ quý hiếm, hầu hết đều nằm trong các bảo tàng lớn, dân gian gần như không thể thấy. Thế nên vừa nghe Tôn Liên Đạt nói, Phương Dật và Mãn Quân đã biết pho tượng Phật vàng này lai lịch không hề tầm thường.
"Đây là vật phẩm thời vương triều Konbaung của Miến Điện..." Triệu Hồng Đào có nền tảng lịch sử rất vững chắc, sau khi suy nghĩ một lát, anh kể cho Phương Dật, Mãn Quân và những người khác nghe về đoạn lịch sử vài trăm năm trước.
Hóa ra, vương triều Konbaung là vương triều cuối cùng của Miến Điện. Người sáng lập vương triều này tên là Alaungpaya, cùng với Anawrahta và Bayinnaung được xưng tụng là "Ba vị đại đế Miến Điện".
Năm 1752, sau khi người Môn chiếm được thủ đô Ava của vương triều Taungoo, từng dụ Alaungpaya đầu hàng. Alaungpaya từ chối, lấy Konbaung làm căn cứ, một trận đánh tan đại quân người Môn. Từ đó quân uy chấn động, các thủ lĩnh khắp nơi lần lượt quy thuận, Alaungpaya được tôn làm vua.
Năm 1753 chiếm được Ava, từ năm 1756 đến 1757 lại liên tiếp chiếm được Prome, Dagon (nay là Yangon) và Pegu, đi đến đâu thắng đến đó, thống nhất hạ Miến Điện. Miến Điện thời kỳ đó đối với các khu vực xung quanh là một thế lực vô cùng hùng mạnh, tất nhiên, không bao gồm triều đại nhà Thanh lúc bấy giờ.
Miến Điện sùng bái Phật giáo, hơn nữa lại là quốc gia giàu vàng, tài nguyên kim loại màu rất phong phú. Sau khi Alaungpaya qua đời, con cháu ông đã dùng vàng ròng đúc nên pho tượng Phật này để thờ phụng trong hoàng cung.
Sự hùng mạnh của vương triều Konbaung được xây dựng trên nền tảng thần phục Trung Quốc. Trong một cơ hội tình cờ, một vị tướng nhà Thanh đóng quân ở biên giới đã nhìn thấy pho tượng Phật này, trong lòng nảy sinh tham niệm. Nhân một lần được vua Miến mời dự tiệc, ông ta đã lén phái binh cướp lấy tượng Phật.
Nhưng điều vị tướng kia không ngờ tới là, Miến Điện vốn là vùng đất nhỏ bé, lần này lại không hề lùi bước mà trực tiếp phái quân đánh vào nội địa, cướp lại pho tượng Phật. Vị tướng kia cũng tử trận trong cuộc chiến đó. Chiến sự ngày càng lan rộng, trong lịch sử gọi là chiến tranh Thanh - Miến.
Cuối cùng, sau khi triều đình nhà Thanh điều tra rõ nguyên nhân cuộc chiến, cuộc chiến này mới kết thúc bằng việc hai bên ký kết hiệp ước. Bên ngoài tuyên bố là đánh nhau vì lý do kiểm soát lãnh thổ biên giới và tài nguyên, nhưng thực chất mồi lửa gây ra chiến tranh chính là pho tượng Phật vàng trước mặt này.
Tôn Liên Đạt, Dư Tuyên và những người biết đoạn lịch sử này, khi nhìn pho tượng Phật vàng, cứ như thể chính mắt chứng kiến cuộc chiến năm đó. Trong lòng họ, giá trị nghiên cứu lịch sử của pho tượng Phật này vượt xa giá trị của bản thân vàng bạc.
"Anh Triệu, vậy... vậy món đồ này rốt cuộc đáng giá bao nhiêu tiền ạ?"
Đúng lúc Phương Dật và Mãn Quân đang đắm chìm trong đoạn lịch sử kia, giọng Béo lại vang lên. Đối với Béo, hệ giá trị của cậu luôn gắn liền với tiền bạc, lịch sử là thứ không nhìn thấy, không sờ được, chẳng liên quan gì đến cậu cả.