Bước vào Angkor Wat, một con hào hình chữ nhật trong vắt như gương bao quanh một ốc đảo đầy cây cối xanh tươi. Ốc đảo này được bao bọc bởi tường thành của ngôi đền, kiến trúc nằm chính giữa ốc đảo chính là đàn tế hình kim tự tháp kiểu Ấn Độ giáo của đền Angkor Wat, tượng trưng cho núi Tu Di.
Đền Angkor Wat tọa Đông hướng Tây, một con đường đắp cao chạy từ chính Tây sang chính Đông, vắt ngang qua hào nước, dẫn thẳng đến cổng lớn phía Tây của tường thành. Qua cổng Tây, lại có một con đường dài hơn xuyên qua thảm cỏ xanh mướt, dẫn thẳng đến cổng chính của ngôi đền.
Mặc dù trời còn sớm, Angkor Wat đã đón không ít du khách, phần lớn trong số đó là người đồng hương. Họ dậy thật sớm để đến Angkor Wat ngắm bình minh. Nghe những ngôn ngữ quen thuộc bên tai, Phương Dật cảm thấy một sự gần gũi khó tả.
Mấy tháng nay Phương Dật luôn sống ở nhà họ Bành. Dù trong nhà có nhiều người biết nói tiếng Hán, nhưng đối thoại giữa họ hầu như toàn bằng tiếng Miến Điện hoặc tiếng Anh. Ở đó mấy tháng, trình độ tiếng Anh và tiếng Miến Điện của Phương Dật đã tiến bộ vượt bậc.
"Tôi đi mua vé, cậu đợi ở đây một lát..." Bành Bân chào Phương Dật một tiếng rồi đi theo một đoàn khách du lịch trong nước về phía quầy vé. Năm sáu phút sau, một thiếu niên da ngăm đen đi theo sau Bành Bân quay lại.
"Mua loại vé có thể ra vào trong bảy ngày..." Bành Bân đưa tấm vé cho Phương Dật. Anh không cho rằng mình và Phương Dật có thể tìm thấy bí mật của Angkor Wat ngay trong ngày đầu tiên.
"Đại ca, cậu ấy là?"
Nhận lấy tấm vé từ tay Bành Bân, Phương Dật nhìn thiếu niên kia. Cậu ta chừng mười sáu mười bảy tuổi, có lẽ do thường xuyên phơi nắng nên da rất đen, nụ cười lộ ra hàm răng trắng đặc biệt nổi bật.
"Đây là hướng dẫn viên của chúng ta, để cậu ấy giải thích cho chúng ta về Angkor Wat..."
Bành Bân nháy mắt với Phương Dật. Hướng dẫn viên này là đứa trẻ lớn lên tại địa phương, có thể tự do ra vào Angkor Wat. Có người này đi cùng, Bành Bân có thể hỏi được nhiều chuyện mà hướng dẫn viên chính quy không hề hay biết.
"Em tên là A Lai, hai vị tiên sinh đến từ Trung Quốc phải không?" Chàng trai trẻ rất hay cười này dùng tiếng Trung để tự giới thiệu. Tuy phát âm có chút ngượng nghịu nhưng chữ nào ra chữ nấy, giao tiếp hoàn toàn không có vấn đề gì.
"Đúng vậy, chúng tôi đến đây du lịch. A Lai, em hiểu rõ về Angkor Wat chứ?"
Bành Bân rút từ trong túi ra một tờ tiền mệnh giá 100 USD, nghĩ ngợi một chút rồi lấy thêm hai tờ nữa, cùng đưa vào tay A Lai.
Bành Bân từng đến Angkor Wat, biết giá thuê hướng dẫn viên chính quy một ngày chỉ khoảng 30 USD. Với người địa phương như thế này, chỉ cần đưa 10-20 USD là họ đã tận tình giải thích cho khách rồi. Anh rút một lúc 300 USD, số tiền này đủ khiến chàng trai trẻ trước mặt có thể làm bất cứ việc gì.
"Đa tạ, không... không cần nhiều thế đâu ạ..."
Nhìn ba tờ tiền xanh biếc trên tay, A Lai tỏ ra lúng túng. Dù khách du lịch thường cho cậu tiền tip, nhưng chưa bao giờ có ai hào phóng tới mức đưa cả trăm đô la, đây là một con số rất lớn ở địa phương.
Campuchia là quốc gia có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, cơ sở công nghiệp rất yếu kém, là một trong những nước kém phát triển nhất thế giới. Thu nhập bình quân đầu người một năm chỉ khoảng vài trăm đô la. Dù nhờ có Angkor Wat mà thu nhập của cư dân địa phương cao hơn một chút, nhưng 300 USD cũng gần bằng thu nhập hơn nửa năm của họ rồi.
"Hai vị tiên sinh, hai anh cứ yên tâm, em lớn lên ở ngay trong Angkor Wat, từng viên đá ở đây em đều rất quen thuộc..."
A Lai vỗ ngực cam đoan với Bành Bân. Người địa phương như họ ra vào Angkor Wat không cần mua vé, hơn nữa anh trai của A Lai là nhân viên quản lý bên trong, nếu không thì thân phận "hướng dẫn viên chui" của A Lai đã bị xử lý từ lâu rồi.
"Tôi muốn ở đây bảy ngày, hoặc có thể lâu hơn."
Bành Bân xua tay nói: "Hai chúng tôi cần một chỗ ở, hai người ở chung một phòng là được. Tiền phòng tôi sẽ trả riêng, 300 USD này chỉ là phí hướng dẫn trong bảy ngày thôi."
"Em... nhà em có thể cho ở ạ..."
Nghe Bành Bân nói vậy, A Lai lập tức kích động, vội vàng nói: "Nhà em cách đây rất gần, đi bộ chỉ mất năm sáu phút. Hai vị tiên sinh cứ yên tâm, nhà nghỉ của nhà em là nơi sạch sẽ nhất khu vực này, phòng nào cũng có bồn cầu xả nước, đảm bảo hai anh sẽ hài lòng."
Người ta thường nói "nghèo thì nghĩ đến thay đổi". Tại các ngôi làng quanh khu du lịch Angkor Wat, người dân đều dựa vào di tích nổi tiếng thế giới này để kinh doanh. Ngoài dịch vụ ăn ở, nhiều người trong làng còn đan lát các món đồ thủ công mỹ nghệ để bán, nên thu nhập bình quân ở vùng này cao hơn mức trung bình của cả nước Campuchia.
"Được, lát nữa tham quan xong, chúng tôi sẽ đến ở nhà em..."
Bành Bân nghe vậy gật đầu, lại rút từ trong túi ra một tờ 50 USD nói: "A Lai, hai chúng tôi chưa ăn sáng, em có thể giúp mua chút đồ ăn không? Nếu có chả giò cà ri thì tốt nhất..."
Dù trong ba lô phía sau có bánh lương khô, lại còn là loại bánh hành quân của quân đội Mỹ với nhiều hương vị, nhưng ăn liền mấy ngày khiến Bành Bân cũng không chịu nổi. Bây giờ anh chỉ muốn ăn chả giò cà ri của Campuchia, đây là một món điểm tâm đặc trưng ở đây.
"Có ạ, có ạ, còn có cả cơm bò cà ri nữa..." Nhận lấy tiền, A Lai xoay người chạy đi, miệng nói: "Hai vị tiên sinh đợi em một lát, em quay lại ngay..."
Chữ "ngay" của A Lai quả thực không lâu, chỉ bảy tám phút sau, A Lai đã xách một cái giỏ chạy về.
Sau khi mời Phương Dật và Bành Bân ngồi xuống bên một dãy hành lang, A Lai lấy từ trong giỏ ra hai phần cơm bò, một phần chả giò cà ri và hai phần bún nước đựng trong bát nhựa. Ngoài ra, A Lai còn rất chu đáo chuẩn bị cho mỗi người một chai nước.
"Tiên sinh, đây là tiền thừa ạ..." Trong giỏ còn dư hơn 20 USD. Càng ở những nơi nghèo khó, lạc hậu, sức mua của đồng đô la càng mạnh. Cả giỏ đồ ăn đầy ắp này chỉ tốn hơn 20 USD.
"A Lai, đó là tiền tip cho em đấy..."
Bành Bân xua tay không lấy lại tiền, mà cầm hộp cơm bò lên ăn ngấu nghiến. Anh phát hiện ra sau khi tiếp xúc với công pháp luyện thể, khả năng tiêu hóa của dạ dày mình đã mạnh hơn rất nhiều. Đôi khi vừa ăn xong không bao lâu đã lại thấy đói.
"Món bún này ngon đấy, gọi là gì vậy?"
Phương Dật mở hai bát nhựa ra, thấy bên trên bát bún có phủ lá bạc hà, giá đỗ, đậu xanh, hoa chuối, dưa chuột và bảy tám loại rau khác, thêm chút cà ri xanh. Chỉ mới ngửi thôi đã khiến Phương Dật thấy thèm ăn.
"Đây là món điểm tâm đặc sản địa phương, gọi là bún nước ạ..." Thấy Phương Dật thích, A Lai vội nói: "Nếu tiên sinh thích, em đi mua thêm phần nữa cho anh."
Vừa nhận được hơn 20 USD tiền tip, lòng A Lai vui như mở hội. Cậu biết hôm nay mình đã gặp được "đại gia" trong truyền thuyết. Nếu phục vụ tốt hai người này, có lẽ mấy ngày nay cậu kiếm được bằng thu nhập cả năm trời.
"Không cần đâu, đủ rồi..."
Dù cũng tu luyện công pháp luyện thể, nhưng nhu cầu về thức ăn của Phương Dật không lớn như Bành Bân. Không biết có phải do hấp thụ và dung hợp tia linh khí kia hay không, Phương Dật cảm thấy chân khí của mình có chút thay đổi, khi vận chuyển trong cơ thể, nó không ngừng nuôi dưỡng nhục thân của anh.
Vì vậy, so với Bành Bân, công pháp luyện thể không giúp tu vi của Phương Dật tăng tiến quá nhiều, chỉ giúp độ bền và sức mạnh của nhục thân tăng lên đáng kể.
Cảnh Bành Bân và Phương Dật ăn uống có thể gọi là "quét sạch". Hai huynh đệ bất kể món gì cũng nhét đầy vào miệng, nhai vài cái rồi nuốt chửng. Tướng ăn của hai người suýt chút nữa khiến A Lai ngẩn người, nếu không biết thì cứ ngỡ họ đã nhịn đói bao nhiêu ngày nay rồi.
"Đi thôi!"
Chỉ mất ba bốn phút, giỏ đồ ăn đã bị hai người quét sạch. Bành Bân chép miệng vẻ chưa đã thèm, nói: "Tối nay chúng ta sẽ ăn một bữa ra trò. A Lai, đến lúc đó bảo người nhà em nướng cho một con cừu, đúng rồi, dùng ớt đỏ và muối làm gia vị thôi nhé, đừng cho cà ri Khmer..."
Dù không thể coi là kẻ sành ăn, nhưng khi có điều kiện, Bành Bân rất chú trọng chuyện ăn uống. Lần trước đến Angkor Wat, anh cũng ở nhà một người dân, món cừu nướng lần đó khiến anh nhớ mãi không quên.
"Vâng ạ, tiên sinh, lát nữa em sẽ nhắn người nhà chuẩn bị giết một con cừu..."
Nghe Bành Bân nói, A Lai vội gật đầu. Lát nữa vào Angkor Wat, cậu chỉ cần chào hỏi nhân viên một tiếng là có thể nhắn cho người anh trai đang làm quản lý ở trong đó.
Trì hoãn bên ngoài một lúc, lượng người đến Angkor Wat đã đông hơn. Có mấy nhóm trẻ con địa phương chạy nhảy giữa đám du khách, thỉnh thoảng lại xin tiền hoặc kẹo.
Tuy nhiên, những đứa trẻ này rất lịch sự, khi bị từ chối sẽ không quấy rầy du khách. Những đứa nhỏ hơn thì đùa nghịch đuổi bắt, tiếng cười giòn tan của chúng mang lại sức sống cho ngôi cổ tự ngàn năm uy nghiêm này.
"Anh A Lai..."
Khi A Lai dẫn Bành Bân và Phương Dật chuẩn bị vào Angkor Wat, bốn năm đứa trẻ sáu bảy tuổi vây quanh lại. Tuy nhiên, chúng có chút sợ hãi Bành Bân đầu trọc lóc, vạm vỡ nên chỉ chào A Lai.
A Lai lấy từ trong túi ra một nắm kẹo chia cho lũ trẻ, chúng reo hò chạy đi. Quay đầu lại, A Lai cười nói: "Ngày xưa em cũng lớn lên như vậy đấy, Angkor Wat đối với chúng em như chính ngôi nhà của mình vậy..."
"A Lai, em tín Phật giáo phải không?" Bành Bân hỏi một cách bâng quơ: "Angkor Wat là thánh địa Phật giáo, không biết ở đây có từng hiển lộ thần tích gì không?"
"Thần tích?" A Lai lắc đầu: "Tiên sinh nói thần tích là gì ạ? Chúng em bây giờ cơm ăn áo mặc đầy đủ, chẳng lẽ không phải là sự che chở của thần linh sao?"
"Không phải, ý tôi là có vị thần nào từng giáng lâm không? Hoặc có ai từng đi vào cõi Phật ở bên trong này không?" Bành Bân từng bước dẫn dắt A Lai. Hỏi chuyện cũng là một kỹ năng, hỏi quá thẳng thừng sẽ khiến người ta sinh nghi.
"Không có ạ, có lẽ do chúng em quá ngu muội nên Phật không muốn độ hóa..."
A Lai vẫn lắc đầu, bỗng nhớ ra điều gì đó, vội nói: "Em từng nghe các bậc trưởng bối kể, mấy chục năm trước khi Angkor Wat chưa trở thành điểm du lịch, dân làng thường hay chăn cừu ở trong này. Không biết vì lý do gì mà cừu thường xuyên bị mất tích..."
Về truyền thuyết của Angkor Wat, trong các ngôi làng xung quanh vẫn còn lưu truyền một ít. Mất gia súc chỉ là một khía cạnh, có người còn nói bên dưới mảnh đất này vẫn còn một vương quốc, chỉ là bây giờ không tìm thấy nữa mà thôi.
"Có cừu mất tích? Bây giờ còn không?" Nghe A Lai nói, mắt Bành Bân không khỏi sáng lên.
"Không còn nữa ạ, trong Angkor Wat từ lâu đã không cho chăn cừu rồi."
A Lai lắc đầu, dẫn Phương Dật và Bành Bân đi qua cổng thành có gương mặt Phật đặc trưng, nói với hai người: "Hai vị tiên sinh, các anh muốn tham quan Angkor Wat trước hay đi đến Đền Nữ Hoàng (Banteay Srei) trước? Ở đây có xe đi đến đó ạ..."
"Đền Nữ Hoàng để vài ngày nữa hãy đi. Mấy ngày nay cứ chơi ở Angkor Wat đã. Hiền đệ, cái Đền Nữ Hoàng mà cậu ấy nói cũng là danh thắng gần đây thôi..."
Bành Bân giải thích cho Phương Dật. Từng đến Angkor Wat nên anh biết Đền Nữ Hoàng là một trong ba ngôi đền thánh lớn nhất Campuchia, được mệnh danh là "viên ngọc quý trong các di tích Angkor". Kiến trúc ở đó cực kỳ độc đáo, lần trước Bành Bân cũng đã từng tham quan.
"A Lai, chúng ta cứ ở lại Angkor Wat trước đi." Phương Dật suy nghĩ một chút rồi nói: "Tôi học về lịch sử và khảo cổ, có lẽ sẽ khảo sát Angkor Wat kỹ hơn một chút, thời gian sẽ mất nhiều hơn..."
Theo như bàn bạc trước đó, họ sẽ lật tung Angkor Wat từng tấc một. Để không gây nghi ngờ cho A Lai, hai người đã nghĩ ra cái cớ này. Theo lời Bành Bân, mỗi năm đều có rất nhiều chuyên gia, học giả đến đây nghiên cứu khảo sát.
"Không sao ạ, hai vị tiên sinh có gì không hiểu cứ hỏi em là được..."
Đối với lời của Phương Dật, A Lai hoàn toàn không nghi ngờ. Đúng như Bành Bân nói, Angkor Wat thu hút các chuyên gia khảo cổ từ khắp nơi trên thế giới, có người thậm chí ở lại đây vài năm, nên hành vi của Phương Dật và Bành Bân không có gì là kỳ lạ.
Tham quan Angkor Wat chia làm vòng lớn và vòng nhỏ. Thực ra chỉ cần hai ngày là có thể đi hết toàn bộ Angkor Wat. Tuy nhiên đối với Phương Dật và Bành Bân, thời gian đó còn lâu mới đủ. Từ sau khi qua cổng thành, hai người gần như di chuyển với tốc độ "rùa bò".
Angkor Wat có nhiều kiến trúc đền thờ kiểu kim tự tháp. Đứng ở cửa có thể nhìn thấy năm tòa bảo tháp sừng sững như năm chấm trên quân xúc xắc. Trong đó bốn tòa tháp nhỏ hơn nằm ở bốn góc, một tòa tháp lớn đứng sừng sững ở chính giữa, bố cục tương tự như tháp Kim Cương Bảo Tòa của Ấn Độ. Nhưng khoảng cách giữa năm tòa tháp rất rộng, giữa các tháp được nối với nhau bằng hành lang.
Ngoài ra, mỗi tầng của đàn tế núi Tu Di đều có hành lang bao quanh, đó là nét đặc sắc của kiến trúc Angkor Wat. Những bậc thang ở đó rất dốc, Phương Dật thấy nhiều người phải dùng cả tay lẫn chân để leo lên. Theo lời A Lai, điều này ngụ ý rằng con người cần phải trải qua nhiều gian khổ mới đến được thiên đường.
Tĩnh tâm lại, Phương Dật nhận thấy Angkor Wat quả thực là một nơi đáng để nghiền ngẫm và nghiên cứu. Hầu hết các kiến trúc ở đây đều có những bức phù điêu tinh xảo. Dù tất cả các công trình đều đã đổ nát, nhưng sự đổ nát này lại mang đến cho người ta cảm giác về sự tang thương của thời gian.
Từ mục đích tìm kiếm ban đầu, Phương Dật dần đắm chìm vào nền văn hóa lịch sử tang thương này. Dùng tay vuốt ve những đường nét chạm khắc, Phương Dật dường như cảm nhận được cảnh tượng những người thợ thủ công chăm chỉ làm việc năm xưa.
Khác với Phương Dật, Bành Bân hoàn toàn không có hứng thú với văn hóa nơi này. Không biết anh tìm đâu ra một cành cây làm gậy, thỉnh thoảng lại gõ gõ vào một vài chỗ. Đi dọc đường, hầu như mỗi tấc đất đều đã bị anh gõ qua.
Buổi trưa cả hai cũng không ra khỏi Angkor Wat, A Lai là người đi mua cơm mang vào.
A Lai vốn còn chút nghi ngờ về hai người, giờ đây đã hoàn toàn tin tưởng. Bởi vì hai người họ, đặc biệt là Phương Dật, thực sự giống như những chuyên gia học giả trước đây, sự say mê với Angkor Wat là điều có thể nhìn thấy rõ.
Mãi đến bảy giờ tối, khi Angkor Wat đến giờ đóng cửa, Phương Dật và Bành Bân mới được A Lai dẫn ra ngoài. So với vẻ thất vọng của Bành Bân, gương mặt Phương Dật lại bình thản hơn nhiều. Dù là người tu đạo, nhưng ngôi cổ tự này vẫn mang đến cho Phương Dật nhiều chấn động.
Văn hóa là sự kết nối, dù là kim tự tháp Ai Cập, Vạn Lý Trường Thành hay tượng binh mã ở Trung Hoa, hay Angkor Wat ở Campuchia, tất cả đều đại diện cho nền văn minh vượt xa thời đại đó, đồng thời để lại cho hậu thế nhiều bí ẩn chưa có lời giải. Tất cả những điều đó khiến Phương Dật vô cùng say mê.
Buổi tối, Bành Bân và Phương Dật quả nhiên được ăn cừu nướng. Cả nhà A Lai chào đón họ vô cùng nhiệt tình, còn đặc biệt tổ chức một bữa tiệc lửa trại, cùng với vài du khách phương Tây trong nhà nghỉ, ca hát nhảy múa đến tận đêm khuya mới nghỉ ngơi.
Sự xuất hiện của Tiểu Ma Vương cũng mang lại nhiều tiếng cười cho bữa tiệc. Mọi người đều rất hứng thú với sinh vật nhỏ thông minh này. Hai người phương Tây kia còn chụp ảnh chung với Tiểu Ma Vương, tất nhiên là lúc nó đã say mèm mới làm được.
"Có phát hiện gì không?"
Trở về phòng, Bành Bân và Phương Dật thảo luận: "Mẹ kiếp, nơi này làm gì có không gian thần bí nào? Đừng để chúng ta bị Long Bà Thác lừa rồi, mấy gã này luôn thích gắn mọi chuyện với thần tích..."
"Đại ca, chúng ta mới đến có một ngày, anh bình tĩnh chút được không?" Phương Dật nhìn Bành Bân đầy cạn lời.
Sau khi đến đây, Phương Dật mới biết vùng Angkor không chỉ có Angkor Wat là di tích cổ. Ngoài ra còn có Đền Nữ Hoàng, Đền Thánh Kiếm, v.v., đều thuộc về một phần của kỳ tích Angkor. Ngoài ra còn có rất nhiều di tích chưa được khai quật, không ai biết diện tích của kỳ tích Angkor rộng lớn đến mức nào.
Hơn nữa, xung quanh còn rải rác rất nhiều ngôi làng, biết đâu Long Bà Thác sinh ra ở những ngôi làng đó. Bây giờ Phương Dật nghĩ đến hai khả năng: một là Long Bà Thác sinh ra trước thời đại vương triều Angkor, trong thời đại ông sống, Angkor Wat vẫn chưa tồn tại.
Khả năng thứ hai là khi Long Bà Thác ra đời, kỳ tích Angkor đã biến mất. Long Bà Thác sống ở ngôi làng xung quanh không biết đã chạm vào nơi nào mới tiến vào được không gian thần bí đó.
"Nếu cứ tìm từng tấc một như cậu, thì chúng ta có tìm ở đây mười năm cũng không thấy không gian đó đâu!"
Nghe phân tích của Phương Dật, Bành Bân suýt bật khóc. Tuy nhiên anh cũng không có cách nào tốt hơn, vì kết quả suy luận từ cuộc đời của Long Bà Thác không chính xác, chỉ có thể xác định đại khái là nằm trong phạm vi này mà thôi.