Mọi chuyện đúng như Phương Dật dự đoán, Chu Hổ sau khi nhìn thấy những bức ảnh đó thì chẳng còn hứng thú đi kiểm chứng nữa, mà nhanh chóng quay về kinh thành. Lần cá cược ở Kim Lăng này đã khiến hắn bị thâm hụt một khoản không nhỏ, Chu Hổ cũng cần quay về kinh thành để thúc giục thu hồi vài khoản tiền nhằm giải quyết vấn đề tài chính.
Về phần Chu Chính Quang, sau khi lấy lại chiếc xe đó, hắn không bao giờ dám lộ diện trước mặt Phương Dật và những người khác nữa. Lần này hắn thực sự đã bị Phương Dật dọa cho mất mật, cái sân tập kia thậm chí còn giao lại cho người khác quản lý, Chu Chính Quang chưa từng quay lại đó lấy một lần.
Sau vài ngày dưỡng thương, Mập mạp lại trở nên hoạt bát như thường. Có mười vạn tệ Phương Dật đưa, trong lòng Mập mạp vô cùng tự tin. Cậu ta lấy ra năm vạn để mua sắm đồ đạc, thiết bị điện cho ngôi nhà mới, còn năm vạn còn lại, Mập mạp thực sự đã đưa cho Mạnh Song Song để cô ấy trang trải chi phí sinh hoạt.
Khoảng thời gian này, Phương Dật dồn hết tâm trí vào buổi lễ bái sư sắp tới. Với sự giúp đỡ của Triệu Hồng Đào, cậu đã liên hệ được một khách sạn hạng trung và bao trọn hơn mười phòng vào cuối tháng. Tất nhiên, Phương Dật hiện tại đang nghèo rớt mồng tơi, chi phí này cũng là do Triệu Hồng Đào ứng trước giúp.
Trước ngày diễn ra buổi lễ bái sư một tuần, Phương Dật xin nghỉ phép với thầy giáo hai ngày, rồi kéo theo Mập mạp, Tam Pháo và Mãn Quân vừa từ nơi khác trở về, cùng nhau trở lại núi Phương Sơn. Đã hơn nửa năm xuống núi, đây là lần đầu tiên Phương Dật quay về bái tế sư phụ.
Công việc kinh doanh ở chợ đồ cổ, Mập mạp và những người khác tạm thời giao cho Tư Nguyên Kiệt trông coi. Phải nói rằng, sau một tháng bày sạp ở chợ đồ cổ cùng Mập mạp và Tam Pháo, Tư Nguyên Kiệt từ một gã ngốc không biết gì về đồ cổ đã được hun đúc thành một tay "lão luyện" nửa mùa, sắp có thể tự mình đảm đương công việc rồi.
Ngoài nhóm của Phương Dật, chuyến đi lần này còn có thêm hai cô gái. Đối tượng của Tam Pháo thì từng đến đây một lần, nhưng bạn gái của Mập mạp thì là lần đầu tiên đặt chân tới. Ngay khi vừa vào ngôi làng nhỏ, cô ấy đã gây ra một sự náo động lớn, hầu như tất cả mọi người trong làng đều chạy ra xem.
Điều này khiến chuyến lên núi của Phương Dật bị lùi lại một ngày. Sau khi uống liền hai bữa rượu trưa và tối tại nhà trưởng làng, cả nhóm đều nghỉ lại tại ngôi nhà cũ của Tam Pháo, đến sáng sớm hôm sau mới bắt đầu đi về phía đạo quán nằm sâu trong núi.
"Phải nói là phong cảnh nơi này thật tuyệt. Sau này có thể dẫn con cái tới đây..."
Mãn Quân lần đầu đến Phương Sơn đã nhanh chóng bị cảnh sắc cuối thu nơi đây thu hút. Những rặng lá đỏ phủ khắp núi đồi và ngôi làng tĩnh lặng đã mang đến cho Mãn Quân, một người lớn lên ở thành phố, những cảm xúc hoàn toàn khác biệt.
"Anh Mãn, hôm nay chúng ta ở lại trên núi, tối mai nếu không có việc gì, em dẫn anh đi đánh cá bằng pháo..."
Đứng trên sườn núi, Tam Pháo nhìn về phía hồ chứa nước ở đằng xa, vô thức lại thấy ngứa ngáy tay chân. Phải biết rằng trước đây, hồ nước này chính là "sân nhà" của bọn họ, lúc nào muốn ăn cá là lại ra đó ném vài quả pháo xuống.
"Đánh cái con khỉ, lần trước chúng ta đánh xong rồi chạy, bố tôi bị phạt mất một ngàn tệ đấy..."
Nghe thấy lời Tam Pháo, Mập mạp lập tức nổi giận. Lần Phương Dật xuống núi, bọn họ đã đi đánh cá một lần, hôm sau liền vào thành phố. Nhưng sau đó khi gọi điện thoại, Mập mạp mới biết ông bố làm trưởng làng của mình vì chuyện này mà bị phạt một ngàn tệ, còn bị thông báo phê bình toàn thị trấn nữa.
"Tam Pháo, chuyện đánh cá bỏ đi, tối nay tôi đặt vài cái bẫy, bắt ít thú rừng về ăn nhé..."
Trở lại cánh rừng quen thuộc, Phương Dật hít thở bầu không khí núi rừng một cách đầy tham lam. So với căn nhà ở thành phố Kim Lăng, Phương Dật chỉ khi trở về đây mới cảm thấy như được về nhà. Đối với từng cành cây ngọn cỏ nơi đây, Phương Dật đều dành cho chúng tình cảm vô cùng sâu sắc.
Điều duy nhất khiến Phương Dật cảm thấy tiếc nuối là cậu vốn định dẫn Bách Sơ Hạ đi tế bái sư phụ, chỉ tiếc là Bách Sơ Hạ có việc ở kinh thành không thể rời đi được, Phương Dật đành phải dẫn Mập mạp và những người khác lên núi.
"Phương Dật, cậu bảo chúng tôi mang theo dầu muối mắm giấm, là để dùng làm thú rừng sao?" Mãn Quân tò mò hỏi: "Cánh rừng này đã được khai thác bao nhiêu năm rồi, trên núi còn thú rừng gì nữa chứ?"
"Hổ báo thì chắc chắn là không có, nhưng mấy con nhỏ thì không thiếu..."
Phương Dật nghe vậy liền mỉm cười nói: "Đi sâu vào trong một chút, thỏ rừng, lợn rừng, gà rừng và khỉ đều có thể gặp. Gần phía chân núi Mao Sơn còn có sói và cáo, nhưng giờ không biết còn hay không..."
Phương Dật lớn lên trong núi từ nhỏ, đương nhiên biết rõ trong rừng có những loài động vật nào. Nhưng cậu không phải là nhà bảo vệ động vật, từ lúc năm sáu tuổi, Phương Dật đã theo chân lão đạo sĩ đi nhặt con mồi trong bẫy. Kỹ năng đặt bẫy của cậu cũng đều học từ lão đạo sĩ mà ra.
"Nếu gặp được lợn rừng thì tốt quá..." Mập mạp thèm thuồng nói: "Thịt lợn rừng dai và ngon hơn lợn nhà nhiều, nếu là lợn rừng chưa trưởng thành mà để nguyên da nướng thì mùi vị đúng là tuyệt phẩm..."
Người sống trong núi đương nhiên là dựa vào núi mà ăn. Trước đây khi chưa cấm súng, Mập mạp và Tam Pháo đã ăn không ít thú rừng. Ngay cả bây giờ, cứ đến dịp lễ tết, trong bếp nhà họ vẫn treo vài loại thịt thú rừng phơi khô.
Đường núi tuy khó đi nhưng nhóm người Phương Dật cũng không vội vã. Cả đoàn vừa đi vừa nghỉ, mất khoảng ba bốn tiếng đồng hồ mới đến được đạo quán nơi Phương Dật sống từ nhỏ. Một lối đi lát đá xanh uốn lượn trải dài từ lưng chừng núi thẳng đến đạo quán.
"Núi không cần cao, có tiên thì nổi tiếng; nước không cần sâu, có rồng thì linh thiêng..."
Nhìn thấy đạo quán ẩn hiện trong những tán cây, Mãn Quân chợt nhớ đến bài "Lậu Thất Minh" đã học thời trung học. Nhìn từ xa, đạo quán với gạch đỏ ngói vàng kia trông như thực sự mang theo tiên khí, tạo cho người ta cảm giác vô cùng huyền bí.
Tất nhiên, nếu Mãn Quân biết cái gọi là gạch đỏ đó chỉ là do lão đạo sĩ tự đào đất sét đỏ trên núi về nung, còn ngói vàng là lớp rơm rạ phủ trên rồi đắp một lớp đất sét dày, sau đó vạch hình viên gạch lên trên, không biết Mãn Quân còn cảm thấy huyền bí nữa hay không.
"Anh Mãn, sao bên dưới không đọc tiếp? Không thuộc à?" Thấy vẻ mặt đầy thi hứng của Mãn Quân, Mập mạp không nhịn được mà trêu chọc một câu.
"Đi chỗ khác chơi, bớt nói nhảm ở thánh địa Đạo gia này đi..." Mãn Quân phất tay như đuổi ruồi, bước đi trên con đường đá xanh, anh đã nhìn thấy từ xa ba chữ lớn "Thượng Thanh Cung" viết trên tấm biển đạo quán.
"Thánh địa cái gì chứ..." Mập mạp bĩu môi, vẻ mặt khinh khỉnh nói: "Mập gia đây ba tuổi rưỡi đã từng đi vệ sinh ở đây rồi. Cậu cứ hỏi Phương Dật xem, trên giường của lão đạo sĩ đó từng có nước tiểu của Mập gia đấy..."
Trước đây người trong làng dưới núi thường vào núi giao dịch một số món đồ với lão đạo sĩ. Khi Mập mạp hai ba tuổi đã theo bố lên đây, cũng chính thời điểm đó, cậu ta cùng Tam Pháo và Phương Dật đã kết tình bằng hữu sâu đậm. Đây chính là những người bạn nối khố chơi với nhau từ khi còn mặc quần thủng đít.
"Các cậu cứ từ từ đi, tôi lên mở cửa đạo quán trước đây..."
Nhìn đạo quán không xa, tâm trạng vốn khó gợn sóng của Phương Dật bỗng trở nên xúc động. Sau khi dặn dò Mập mạp và những người khác một tiếng, cậu men theo con đường đá xanh, nhanh chóng leo lên núi.
"Sư phụ, đệ tử đã về rồi..."
Hơn nửa năm trôi qua, đạo quán không người ở trở nên ngày càng tiêu điều. Nhìn cảnh vật quen thuộc trước đạo quán, mắt Phương Dật nhòe đi. Những hình ảnh từ thuở nhỏ cứ thế ùa về trong tâm trí cậu.
"Ơn thầy khó báo đáp..."
Cây cổ thụ trước đạo quán vẫn sừng sững cành lá xum xuê, nhưng người sư phụ từng dìu cậu bé Phương Dật leo cây đùa nghịch năm nào nay đã âm dương cách biệt. Điều này khiến trong lòng Phương Dật dấy lên một nỗi đau khó tả. Dù lão đạo sĩ không phải cha mẹ ruột, nhưng Phương Dật vẫn có cảm giác "con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn".
"Phương Dật, đừng nghĩ nhiều nữa, chúng ta vào trong thôi..."
Phương Dật cũng không biết mình đã đứng trước cửa đạo quán bao lâu, cho đến khi bị Tam Pháo vỗ vai mới tỉnh lại. Cậu tiến lên đẩy cửa đạo quán, đập vào mắt là bức tượng gỗ của Tam Thanh Lão Tổ ở chính giữa căn phòng đã phủ đầy bụi bặm và mạng nhện.
"Mập mạp, các cậu nghỉ ngơi một lát đi, tôi đi bái tế sư phụ..."
Phương Dật không kịp quét dọn đạo quán, mà cầm lấy mấy chai rượu cùng gà nướng, thịt thủ lợn và các loại thực phẩm đã mua trong thành phố, rời khỏi đạo quán tiếp tục đi lên phía trên. Cách đạo quán vài chục mét trên núi có một cái lều dựng bằng cỏ tranh. Trong ba năm cuối cùng trên núi, Phương Dật đã dành phần lớn thời gian ở trong cái lều đó để bầu bạn với sư phụ.
"Sư phụ, đệ tử đến thăm người đây..."
Đến trước mộ lão đạo sĩ, Phương Dật quỳ rạp xuống đất, cung kính dập đầu ba cái rồi mới đứng dậy, dọn dẹp cỏ dại trên mộ sư phụ, sau đó mở rượu và thức ăn mang theo.
"Sư phụ, rượu khỉ không còn nữa, đây là loại rượu ngon nhất dưới núi, còn có món gà nướng và thịt thủ lợn người thích nhất..."
Phương Dật mở cả bốn chai Mao Đài, đổ hai chai trước mộ sư phụ, hai chai còn lại cùng gà nướng và các món cúng khác được bày ra trước mộ để sư phụ từ từ thưởng thức.
"Sư phụ, đệ tử xuống núi hơn nửa năm rồi, không làm điều ác, cũng không làm người mất mặt. À đúng rồi sư phụ, tu vi của con đã đột phá đến cảnh giới Luyện Khí Hóa Thần rồi, so với người lúc còn sống chắc cũng không kém bao nhiêu đâu..."
Phương Dật ngồi trước mộ sư phụ, kể lại tỉ mỉ mọi chuyện sau khi xuống núi, ngay cả bí mật lớn nhất trong lòng là thần thông luân hồi cậu cũng không giấu giếm. Nếu nói người mà Phương Dật tin tưởng nhất trên đời này, thì không ai khác chính là người sư phụ đang yên nghỉ tại đây.