Giờ miền Đông nước Mỹ, 9 giờ sáng ngày 20 tháng 9, buổi học thứ hai trong khóa học công cộng "Công lý: Làm thế nào để làm điều đúng đắn" của giáo sư Michael Sandel bắt đầu đúng giờ.
Chủ đề của buổi học này là "Chủ nghĩa công lợi".
Sau phần mở đầu ngắn gọn, giáo sư Sandel trình chiếu ba đoạn video: phim hoạt hình "Gia đình Simpson", chương trình thực tế "Trò chơi của kẻ dũng cảm" và vở kịch "Hamlet" của Shakespeare. Sau khi chiếu xong, ông đưa ra thêm hai tình huống thực tế của doanh nghiệp. Khi đã trình bày xong các tình huống, ông bước xuống giữa bục giảng, yêu cầu sinh viên tiến hành tranh luận: Liệu niềm vui có thể định lượng được không? Niềm vui ở cấp độ cao hơn có đáng sở hữu và có giá trị hơn không? Khi sự thỏa mãn của tập thể đi ngược lại với công lý xã hội, khi lợi ích của đa số có thể là đê hèn hoặc vô nhân đạo, liệu có nên kiên trì vì lợi ích của đại đa số hay không, làm như vậy có công bằng không?
Sandel vừa dứt lời, cuộc tranh luận tại hiện trường lập tức bùng nổ.
Trong lớp học, đủ loại quan điểm sắc bén và góc độ tiếp cận khác nhau lần lượt xuất hiện, khiến Biên Học Đạo ngồi dự thính càng nghe càng thấy thu hoạch được vô số điều bổ ích.
Có thu hoạch là điều đương nhiên.
Bởi vì các trường đại học Mỹ có ba đặc điểm chính:
Đặc điểm thứ nhất là giảng dạy theo tình huống. Các giáo sư Mỹ quen với việc lồng ghép kiến thức vào những tình huống và câu chuyện kinh điển, không yêu cầu ghi chép quá nhiều, cũng không nhấn mạnh vào việc chỉ được chọn một trong hai, nội dung bài giảng vô cùng cởi mở và linh hoạt.
Ưu điểm của phương pháp giáo dục này là sinh viên có thể quên đi các công thức và điểm kiến thức, nhưng sẽ không bao giờ quên được con đường tư duy để suy luận ra công thức và kiến thức đó.
Đặc điểm thứ hai là chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Dù là Harvard hay các trường đại học khác, đại đa số bài tập đều được sinh viên hoàn thành từ trước, nghĩa là phải đọc kỹ giáo trình, sách tham khảo và các loại tài liệu bổ trợ mà giáo sư yêu cầu trước khi vào lớp, nắm được khung sườn của nội dung sẽ học. Nhiều sinh viên còn lập nhóm để mô phỏng thảo luận trước, rèn luyện tư duy và khả năng ăn nói.
Phương pháp giáo dục này giống như dạy bơi. Có những huấn luyện viên nhấn mạnh đủ điều về kỹ thuật và lưu ý trước khi học viên xuống nước, kết quả là học viên vừa xuống hồ đã luống cuống tay chân, quên sạch mọi thứ, giảng cũng như không. Loại huấn luyện viên thứ hai lại chẳng nói gì, cứ đẩy học viên xuống hồ, để họ tự vùng vẫy một lúc rồi mới kéo lên, chỉ cho họ tư thế bơi đúng. Ưu điểm của cách dạy thứ hai là học viên đã tiếp xúc với nước, đã biết cảm giác cơ thể trong nước ra sao, lúc này nghe giảng về kỹ thuật sẽ dễ hiểu hơn, nắm bắt kỹ năng hiệu quả hơn nhiều.
Đặc điểm thứ ba là phải nói ra quan điểm của mình. Trong lớp học tại Mỹ, đối mặt với các tình huống được đưa ra, giáo sư yêu cầu sinh viên bắt buộc phải đưa ra lựa chọn và bày tỏ quan điểm, đó là "Nếu là bạn, bạn sẽ làm gì?" và "Tại sao bạn lại chọn làm như vậy?".
Trong lớp, sinh viên có thể thoải mái nói lên suy nghĩ, nhưng tuyệt đối không được ba phải, không cho phép nói những câu nước đôi kiểu "Tôi tán thành ý kiến của cả hai bên" hay "Cả hai quan điểm đều có lý". Bởi vì những câu trả lời như vậy không chỉ khiến giáo sư cho rằng sinh viên đó không chuẩn bị bài kỹ, mà còn không phù hợp với tinh thần mạo hiểm vốn là nền tảng lập quốc của nước Mỹ.
Cái gọi là chiết trung, cái gọi là trung dung, trong mắt một số tinh hoa nước Mỹ chẳng qua chỉ là tấm lá chắn che đậy cho sự hèn nhát, mất đi tinh thần tiến thủ và thỏa hiệp vô nguyên tắc của kẻ yếu. Các giáo sư sẽ không lãng phí tâm sức và tài nguyên cho những người như vậy, vì họ có thể sống ổn ở các quốc gia khác, nhưng ở Mỹ thì tuyệt đối không có cửa thăng tiến.
Quay lại lớp học.
Khi các quan điểm tranh luận ngày càng sâu sắc, Biên Học Đạo chợt hiểu ra Harvard lợi hại ở chỗ nào – Harvard hòa tan sự tự tin và tầm vóc vào trong máu của sinh viên.
Tất nhiên, sinh viên tốt nghiệp Harvard có hàng vạn, không phải ai cũng có thể làm mưa làm gió, một bộ phận không nhỏ vẫn sống mệt mỏi và gian nan như bao người bình thường khác. Nhưng dù sao đi nữa, xét từ góc độ giáo dục, Harvard đã cung cấp cho sinh viên mọi điều kiện và khả năng, ví dụ như mạng lưới cựu sinh viên hoành tráng, ví dụ như để những thiên tài làm bạn tập luyện, rèn giũa tư duy và tài ăn nói.
Sau giờ học, ăn trưa xong, Biên Học Đạo chợp mắt một tiếng rồi ra ngoài dạo phố.
Đã cuối tháng 9, khuôn viên Harvard bắt đầu có hơi hướng mùa thu.
Ngồi trên ghế cạnh bãi cỏ, nhìn những sinh viên đang ngồi trên thảm cỏ, thảnh thơi đọc sách hoặc trò chuyện, Biên Học Đạo bỗng nhớ đến câu hỏi mà Sandel đã hỏi một nam sinh da trắng có vẻ hơi hướng nội trong lớp: "Hãy nói cho tôi biết, cậu định làm gì với cuộc đời hoang dại và quý giá của mình?"
Nam sinh da trắng không trả lời ngay.
Ngay cả ở Harvard, không phải sinh viên nào cũng nói rõ được mình muốn gì, không phải ai cũng biết chính xác mình muốn trở thành người như thế nào.
Thành thật mà nói, Biên Học Đạo cũng không thể trả lời câu hỏi của Sandel ngay lập tức mà không cần suy nghĩ.
Khi diễn thuyết tại trường cũ và các trường khác, anh thường nói những lời hoa mỹ, chẳng ai bắt bẻ được, kiểu như "theo đuổi một cuộc đời có ý nghĩa", hay "trở thành người thay đổi thế giới".
Nhưng tận sâu trong thâm tâm, điều anh khao khát thực sự có lẽ vẫn là làm được điều gì đó, và được người khác tôn trọng!
Tất nhiên, sự tôn trọng mà anh cần có độ khó khá cao, chẳng hạn như bây giờ, nếu có vài giáo sư Harvard hoặc sinh viên da trắng tới làm quen rồi xin chụp ảnh chung, thì thành tựu mà anh đạt được mới coi là xứng tầm.
Đang mải mê suy nghĩ vẩn vơ, một nhóm bốn người gồm hai cô gái châu Á và hai cô gái da trắng ôm sách cùng máy tính xách tay đi thẳng về phía Biên Học Đạo.
Ôi chao!
Nghĩ gì được nấy sao?
---❊ ❖ ❊---
Kế hoạch không bao giờ đuổi kịp thay đổi.
Buổi học thứ ba của giáo sư Sandel, Biên Học Đạo đã không đến nghe, vì người anh đã không còn ở Mỹ.
Anh tình cờ xem lịch, chợt nhớ ra ngày 26 tháng 9 là ngày giỗ của Hồ Khê, thế là đột ngột quyết định bay đến Vancouver.
Hồ Khê đã đi được một năm rồi!
Mặc dù những dấu vết của Hồ Khê để lại trên đời này gần như không còn, nhưng trong lòng Biên Học Đạo chưa bao giờ quên cô.
Vancouver, bến tàu nơi một năm trước tro cốt của Hồ Khê được rải xuống biển.
Biển xanh, trời xanh, bãi cát, bến tàu... mọi thứ xung quanh vẫn như cũ, rất dễ khiến người ta nảy sinh cảm giác chuyện cũ như mới hôm qua.
Biên Học Đạo biết đó chỉ là ảo giác.
Tìm được một chiếc ghế dài không xa bến tàu, anh ngồi xuống.
Ngồi lặng lẽ nhìn ra biển, một ngồi là hai tiếng đồng hồ.
Biên Học Đạo không cử động, sáu vệ sĩ đi cùng chia thành hai nhóm, ba người nghỉ trong xe, ba người bảo vệ xung quanh.
Mọi người dù không nói ra nhưng trong lòng đều thấy kỳ lạ, không hiểu ông chủ nổi cơn gì mà chạy xa xôi đến đây để hóng gió ngẩn ngơ.
Lý Binh không có ở đây, trong sáu người chỉ có Mục Long biết tại sao Biên Học Đạo lại đến đây vào ngày này. Sau khi hiểu ra, anh thậm chí còn thấy cảm động. Có thể nhận được chân tình từ người đàn ông đang ngồi trên ghế kia, cô gái từng chịu đau đớn hát ca trong phòng bệnh năm ngoái cũng coi như không uổng phí thâm tình.
Nghĩ tới nghĩ lui, Mục Long nhớ lại bình hoa cát cánh nhìn thấy trong phòng bệnh của Hồ Khê năm ngoái, màu vàng trắng, lặng lẽ nở rộ, lạnh lẽo, thanh tao, chung thủy.
Lại qua nửa tiếng nữa, Mục Long thấy ông chủ lấy điện thoại ra, rồi điện thoại của Đường Căn Thủy đổ chuông.
"Lão Đường, trên xe có rượu không?"
"Rượu gì cũng được."
Nhận được rượu, Biên Học Đạo đứng dậy đi lên bến tàu, trước tiên đổ nửa bình xuống biển, sau đó ngửa cổ uống một ngụm lớn, khẽ nói với mặt biển: "Một năm rồi... năm ngoái lúc em đi có nói sợ không ai đến thăm, anh nghe thấy rồi, anh đã đến đây..."
Lại uống thêm một ngụm: "Anh vẫn ổn, hy vọng em cũng vậy..."
"Còn anh... giống như một học sinh gian lận mà đạt điểm cao, dường như bắt đầu nảy sinh ảo tưởng rằng mình thông minh thật sự... còn có thể làm gì nữa đây? Đánh cược một ván thôi!"
"Em hỏi anh là ai?"
"Anh là anh."
"Đợi ngày anh cưỡi gió rẽ sóng, nhất định sẽ đến kể cho em nghe."