THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 2476 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 847
Ngoại truyện: "Học thuyết đặt tên (1)"

❊ ❊ ❊

Tên gọi cũng giống như ảnh đại diện, phản ánh thông tin cá nhân của chúng ta. Đại đạo chí giản, chúng ta hãy bắt đầu bàn luận từ việc Thái Cực sinh Lưỡng Nghi.

"Tên gọi, trước hết là đại nghĩa."

Ví dụ như Lưu Đức Hoa, tên ban đầu là Lưu Phúc Vinh. "Phúc Vinh" là tư dục, hướng nội là âm; còn "Đức Hoa" là hướng ngoại, là dương. (Còn những người khác, đều là từ nhạy cảm không tiện nói, mọi người hãy tự suy luận).

Ông trời có đức hiếu sinh, chữ "sinh" này, chính là chỉ chúng sinh. Làm lợi cho chúng sinh, đây mới là đạo. Đặt tên, trước hết là phải thuận theo thiên đạo, tôn đạo quý đức.

Sau khi Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, mới bàn đến Tứ Tượng và Ngũ Hành. Ngũ hành của chữ viết có thể phân chia từ nghĩa chữ, bộ thủ (hình dáng chữ), âm luật, số nét bút, v.v.

Sử dụng số nét bút để phân chia ngũ hành là phương pháp được sử dụng khá rộng rãi. Có những môn phái sử dụng ngũ hành con số của Hà Đồ.

Hà Đồ:

"Trời một sinh Thủy, đất sáu thành nó.

Đất hai sinh Hỏa, trời bảy thành nó.

Trời ba sinh Mộc, đất tám thành nó.

Đất bốn sinh Kim, trời chín thành nó.

Trời năm sinh Thổ, đất mười thành nó."

Số lẻ là số trời, là dương, tức là 1, 3, 5, 7, 9. Số chẵn là số đất, là âm, tức là 2, 4, 6, 8 và 10. "Sinh" đại diện cho khởi đầu, nên 1, 2, 3, 4, 5 là sinh số. "Thành" là sự thịnh vượng, đại diện cho sự trưởng thành, gánh vác, nên 6, 7, 8, 9 và 10 là thành số.

Trời một sinh phát từ chính Bắc, đất hai sinh phát từ chính Nam. Số trời và số đất từ điểm khởi đầu kết nối với nhau, hình thành nên hình dáng của đồ hình Thái Cực Âm Dương nguyên thủy.

Màu đỏ là số lẻ, màu xám là số chẵn.

Việc phân chia ngũ hành của các tầng lầu cũng được tính theo con số của Hà Đồ. Tuy nhiên, dù số người tin theo lý thuyết này rất đông, nhưng tính thực dụng lại không cao. Phong thủy chủ yếu nói về "tàng phong nạp khí", dù tầng một có ngũ hành thuộc Thủy, nhưng nếu là tầng một không thông gió, không thoáng khí, thì chút hỗ trợ của ngũ hành Thủy đó hại nhiều hơn lợi, chi bằng không cần còn hơn.

Trong học thuyết đặt tên còn có một cách phân loại ngũ hành theo số nét bút khác, sử dụng ngũ hành con số của Thiên Can:

1 Giáp Mộc, 2 Ất Mộc, 3 Bính Hỏa, 4 Đinh Hỏa, 5 Mậu Thổ, 6 Kỷ Thổ, 7 Canh Kim, 8 Tân Kim, 9 Nhâm Thủy, 10 Quý Thủy.

Dù là dùng ngũ hành con số của Hà Đồ hay Thiên Can, đều tồn tại một vấn đề. Ví dụ như các chữ "Thủy", "Mộc", "Hỏa", đều là 4 nét. Trong Hà Đồ, con số 4 và 9 ngũ hành thuộc Kim. Như vậy, các chữ Thủy, Mộc, Hỏa đều thuộc Kim. Nếu dùng Thiên Can để luận, 4 nét thuộc Đinh Hỏa, thì ba chữ Thủy, Mộc, Hỏa đều thuộc Hỏa. Điều này rõ ràng là không hợp lý.

Ngoài ra, số nét bút còn phải cân nhắc sự khác biệt giữa chữ Phồn thể và Giản thể. Giữa các chữ Phồn thể với nhau, số nét của các kiểu chữ khác nhau cũng có thể không giống nhau. Thế là lại phải sắp xếp thứ tự ưu tiên. Ví dụ như trước tiên xét nét bút Khang Hy, tiếp theo là các nét bút Phồn thể khác, rồi mới kiêm xét đến nét bút Giản thể.

Lý thuyết "Tam Tài Ngũ Cách" mà mọi người thường thấy trong các bài trắc nghiệm chấm điểm tên gọi trên mạng, chính là ngũ hành phân chia theo số nét bút, nhưng lại kiêm thêm rất nhiều lý thuyết khác trộn lẫn vào nhau. Điều này dẫn đến việc cùng một số nét bút nhưng ngũ hành của chữ có thể khác nhau.

Ví dụ như "Lý Tú Trì". Cùng là 7 nét, "Lý" được tính là Hỏa, "Tú" được tính là Kim, "Trì" được tính là Thủy. Hơn nữa, chữ "Trì" thực ra là 6 nét, nhưng bộ "thủy" (ba chấm thủy) trong học thuyết đặt tên lại được tính là 4 nét.

Bởi vì trong học thuyết đặt tên có rất nhiều quy định "đặc biệt":

Bộ ba chấm thủy "氵" bản chất là Thủy, tính là 4 nét;

Bộ "nguyệt" "月" bản chất là chữ Nhục (thịt), tính là 6 nét;

Bộ "đề thủ" "扌" bản chất là chữ Thủ (tay), tính là 4 nét;

Bộ "tẩu chi" "辶" là chữ Tẩu (đi), tính là 7 nét;

Bộ "tâm đứng" "忄" là chữ Tâm, tính là 4 nét;

Bộ "phản khuyển" "犭" là chữ Khuyển (chó), tính là 4 nét;

Bộ "thị" "礻" bản nghĩa là Thị, tính là 5 nét;

Bộ "y" "衤" bản nghĩa là Y (áo), tính là 6 nét;

Chữ "Vương" (tà vương, còn gọi là bộ ngọc hẹp) là chữ Ngọc, tính là 5 nét;

Bộ "tả nhĩ" "阝" (bên trái) là chữ Phụ (bản nghĩa là núi đất), tính là 8 nét;

Bộ "hữu nhĩ" "阝" (bên phải) bản chất là chữ Ấp, tính là 7 nét;

Bộ "thảo" "艹" bản chất là chữ Thảo (cỏ), tính là 9 nét (cũng có lý thuyết tính theo chữ Phồn thể là 6 nét);

Chữ "艸" tính là 6 nét.

Ngoài ra còn quy định, con số được tính theo bản nghĩa, không tính theo số nét bút. Ví dụ "Ngũ" tính 5 nét, "Lục" tính 6 nét, "Thất" tính 7 nét, "Bát" tính 8 nét, "Cửu" tính 9 nét, "Thập" tính 10 nét.

Còn có yêu cầu "gặp chiết tính nét", như chữ "Vạn", tính theo Giản thể là 4 nét (cũng có cách tính theo số nét của chữ Vạn Phồn thể).

Và còn nhiều quy tắc đặc biệt khác, không thể kể hết. Đây là một số cách nói về ngũ hành theo nét bút. Đối với cách nói của các môn phái, chúng ta đều có thể thấu hiểu và tôn trọng. Nhưng lý thuyết ngũ hành theo nét bút có quá nhiều tranh cãi, cùng một chữ lại có nhiều thuộc tính nét bút khác nhau, rốt cuộc lấy cái nào làm chuẩn thì mỗi nhà mỗi ý. Lời khuyên cá nhân của tôi là chỉ nên tham khảo cho biết, không nên lấy làm căn cứ chính.

Tương đối mà nói, về ngũ hành theo nghĩa chữ, mọi người có sự đồng thuận hơn. Ví dụ như các chữ "Hà, Giang, Hồ, Hải", bất kể là Phồn thể hay Giản thể, bất kể mấy nét, xét từ nghĩa chữ, mọi người đều biết là liên quan đến nước, vậy rõ ràng ngũ hành của những chữ này thuộc Thủy.

Lại ví dụ như các chữ "Sơn, Nham, Địa, Phong", bất kể mấy nét đều tính ngũ hành thuộc Thổ. Lý thuyết này tương đối khách quan, nhưng cũng có một nhược điểm là nhiều chữ nhìn thoáng qua không rõ nghĩa thuộc ngũ hành nào. Vậy thì chúng ta có thể phân chia từ góc độ hình dáng chữ.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:603
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »