THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 2688 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 900
"Ngoại truyện: Trì kinh đạt biến"

❊ ❊ ❊

Chương này tôi xin giải thích rõ hơn về vấn đề phương vị bạn đời đã đề cập ở chương 5.

Số ngày trên mặt trăng, địa chi tại điểm rơi chính là đại diện cho phương hướng.

Ví dụ như rơi vào Thân, tức là hướng Tây Nam.

Có nghĩa là bạn ở hướng Tây Nam của cô ấy, hoặc cô ấy ở hướng Tây Nam của bạn.

Cho nên, hướng kéo dài ngược lại cũng đúng.

Tuy nhiên, ở đây có hai vấn đề.

Vấn đề thứ nhất: Tháng Giêng là tháng Dần, nhưng có người sinh vào tháng Giêng mà bát tự lại không phải tháng Dần thì phải làm sao?

Điều này liên quan đến các vấn đề về âm lịch, dương lịch, nông lịch và can chi lịch.

Nông lịch và âm lịch nói một cách nghiêm ngặt thì không hoàn toàn giống nhau, nhưng thường ngày dân chúng nói chuyện cũng không phân biệt quá rạch ròi.

Mọi người thường gọi các con số Ả Rập trên lịch là dương lịch, còn các ngày mùng một, mùng hai bên dưới là âm lịch hoặc nông lịch.

Vì vậy, những gì chương 5 nói chỉ là cách dùng số tháng của âm lịch để tính ngày một cách đơn giản.

Nếu có thể phân biệt rõ can chi, dùng trực tiếp tháng can chi sẽ tốt hơn.

Trong trường hợp can chi và tháng không nhất quán, kết quả sẽ có chút sai lệch.

Phương pháp tính phương vị bạn đời vốn dĩ chỉ là một phạm vi tham khảo thô, sai lệch một chút cũng không ảnh hưởng quá lớn.

Chúng ta có thể mượn vấn đề này để nói về lịch pháp.

Nói một cách nghiêm ngặt, dương lịch chỉ Thái dương lịch (lịch được lập dựa trên quỹ đạo vận hành của mặt trời), âm lịch chỉ Thái âm lịch (lịch được lập dựa trên quỹ đạo vận hành của mặt trăng), còn nông lịch là lịch âm dương kết hợp.

Các con số Ả Rập trên lịch chỉ là một loại dương lịch.

Thiên can địa chi và hai mươi bốn tiết khí cũng thuộc về Thái dương lịch.

Mặt trời quay quanh trái đất một vòng mất 365 ngày cộng thêm năm sáu giờ nữa, chúng ta thường tính một năm có 365 ngày, cho nên cứ 4 năm lại thiếu mất gần một ngày, vì vậy thuật toán của dương lịch là cứ bốn năm có một năm nhuận, ngày dư ra được cộng vào tháng 2. (Thường là 28 ngày, năm nhuận là 29 ngày.)

Nhưng không phải cứ 4 năm nhất định sẽ có một năm nhuận, bởi vì mặt trời quay quanh trái đất một vòng không phải chính xác dư ra đúng 6 giờ.

Nghĩa là, không phải cứ bốn năm là nhất định dư ra một ngày.

Nếu tính theo bốn năm một lần nhuận thì sẽ bị tính dư, thực tế cứ bốn trăm năm sẽ thiếu 3 ngày.

Cho nên còn có cách nói rằng: "Bốn năm một nhuận, trăm năm không nhuận, bốn trăm năm lại nhuận." (Ý là, một trăm, hai trăm, ba trăm năm đầu không nhuận, chỉ đến trăm năm thứ tư mới nhuận để bù lại ba ngày thiếu hụt đó. Nhưng cũng không phải bù đắp hoàn toàn, vẫn còn một chút sai biệt. Tuy nhiên đó là chuyện của mấy nghìn năm sau, bình thường không cần tính đến.)

Nghĩa là, năm dương lịch nào là bội số của 4 nhưng không phải là bội số của 100 thì là năm nhuận.

Nếu năm có đuôi là 00 (năm thế kỷ), trừ khi chia hết cho 400 mới là năm nhuận, nếu không thì không phải. (Ví dụ năm 2000 là năm nhuận, năm 1900 thì không.)

Năm nhuận nói ở trên là của Thái dương lịch.

Dưới đây nói về Thái âm lịch.

Thái âm lịch chỉ quy luật vận động của mặt trăng, ví dụ như mùng một trăng khuyết, mười lăm trăng tròn, mùng một và mười lăm này chính là âm lịch.

Âm lịch có liên quan đến thủy triều.

Tuy nhiên, sự sinh trưởng của thực vật và bốn mùa trong năm lại liên quan đến vị trí của trái đất và mặt trời, Thái âm lịch không thể phản ánh sự thay đổi của các mùa, cho nên người ta kết hợp Thái âm lịch và Thái dương lịch lại, âm dương hòa hợp hình thành nên nông lịch.

Bốn mùa trong năm đi theo dương lịch, tháng đi theo âm lịch.

Một tháng âm lịch có 29 hoặc 30 ngày, cho nên 12 tháng là 354 ngày, chênh lệch 11 ngày so với 365 ngày của Thái dương lịch.

Để bù đắp khoảng cách này, người ta thiết lập phương pháp 19 năm 7 lần nhuận.

Cứ 19 năm sẽ có 7 tháng không có trung khí trong hai mươi bốn tiết khí, 7 tháng này được quy định là tháng nhuận.

Tháng nhuận chỉ có trong phương pháp tính năm của âm lịch.

Còn nếu tính lý số, thông thường sử dụng can chi lịch, không tính đến tháng nhuận.

Tất nhiên, đây chỉ là trường hợp thông thường, một vài môn phái cá biệt hình như cũng có tính đến.

Ví dụ như Tiểu Lục Nhâm.

Tính theo can chi hay tính theo âm lịch, mỗi môn phái lại có cách nói khác nhau.

Đo lường cái này còn dễ nói, bởi vì có câu: "Sai quẻ sai đoán".

Nghĩa là, bạn nhìn ra cái gì thì nó là cái đó, dù có nhìn sai thì đó cũng là sự chỉ dẫn trong cõi mịt mờ.

Nghĩa là, bạn muốn tính thế nào, khởi tâm động niệm sẽ vừa vặn khớp với kết quả.

Ví dụ, bạn muốn tính theo tháng nhuận âm lịch, thì bạn sẽ khởi tâm động niệm vào thời điểm "thích hợp".

Nếu bạn muốn tính theo can chi, thì bạn sẽ khởi tâm động niệm vào một thời điểm "thích hợp" khác.

Đây cũng là lý do vì sao các môn phái tranh cãi mãi không phân định được đúng sai.

Thế giới chiều cao không đơn giản là sự đối lập nhị nguyên, bạn đúng thì tôi sai, tôi đúng thì bạn sai.

Cho nên tự mình xác định bản thân công nhận cách nào cũng được.

Chiêm bốc thì tương đối đơn giản, nhưng xem lý số lại khá phức tạp.

Ví dụ như giờ giấc, thời cổ đại mười hai giờ, lấy 11 giờ làm điểm phân chia, 11 giờ đến 1 giờ gọi là giờ Tý.

Có người lại thêm vào hệ thống 24 giờ, gọi thời gian trước 12 giờ là giờ Tý trước, tính là ngày hôm trước, gọi thời gian sau 12 giờ là giờ Tý sau, tính là ngày hôm sau.

Hệ thống 24 giờ cũng không phải phương pháp tính giờ do Trung Quốc nghiên cứu ra, tại sao lại ảnh hưởng đến việc lập bát tự thì tôi không rõ lắm, dù sao người dùng cũng không ít.

Do sự thay đổi của thời đại, không chỉ hệ thống 24 giờ ảnh hưởng đến lý số, mà ngày Tết Nguyên Đán thay đổi cũng ảnh hưởng đến việc định nghĩa con giáp.

Tết Nguyên Đán ngày xưa lấy Lập Xuân làm chuẩn (dùng Thái dương lịch), đến thời Dân Quốc mới đổi thành mùng một tháng Giêng (lấy Thái âm lịch làm chuẩn).

Tuế thủ hay Thái tuế mà người xưa nói, đều tính bắt đầu từ Lập Xuân.

Nếu đổi con giáp vào mùng một tháng Giêng, sẽ xuất hiện tình huống người có bát tự sinh năm Giáp Tý nhưng không cầm tinh con chuột, mà lại cầm tinh con lợn hoặc con trâu, ha ha ha.

Về việc rốt cuộc là "lấy xưa làm gương", hay là "theo kịp thời đại", cũng là một vấn đề gây tranh cãi rất lớn.

Đạo Đức Kinh chương 14 viết: "Chấp cổ chi đạo, dĩ ngự kim chi hữu. Năng tri cổ thủy, thị vị đạo kỷ."

Nghĩa là: Nắm vững quy luật từ xưa đến nay, để thấu hiểu mọi sự việc xảy ra xung quanh ngày hôm nay, có thể biết hết chuyện xưa nay.

Nhưng bản Đạo Đức Kinh trên lụa lại viết "Chấp cổ chi đạo" thành "Chấp kim chi đạo", nghĩa là Lão Tử đề xướng việc theo kịp thời đại?

Sách cổ phần lớn là bản chép tay, các dị bản khác nhau là do vô tình chép sai, hay do người chép thêm thắt sự hiểu biết cá nhân vào, chúng ta khó lòng mà bàn luận bừa bãi.

Cá nhân tôi khá tán đồng với cách nói của giáo sư Tăng Sĩ Cường.

Ông đề xướng "Trì kinh đạt biến", nghĩa là thông qua việc nắm vững nguyên lý bất biến, để ứng phó với các hiện tượng vạn biến.

Ông nói: "Khi cả xã hội đều tràn đầy sự biến động, xã hội này sẽ vĩnh viễn không thể an định."

Có biến, có bất biến, có lẽ mới chính là chỗ dựa cho con người bước đi giữa những mông lung.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:603
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »