Một Myanmar hỗn loạn về tình hình chính trị, không nghi ngờ gì nữa, càng phù hợp với lợi ích của một số quốc gia và khu vực. Dù là chính quyền quân sự Myanmar hay lực lượng kháng chiến Quân đội Liên minh Bang Shan, phía sau họ đều thấp thoáng bóng dáng của các nhóm lợi ích. Nếu không, chỉ dựa vào sức của một tộc người Shan đơn thuần, làm sao có thể trụ vững suốt bao nhiêu năm qua.
Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh chỉ là một nông dân bình thường nhất tại bang Shan. Nhờ ngôi làng nằm ở vị trí hẻo lánh nên chưa từng bị chiến tranh quấy nhiễu. Thế nhưng, khi Bắc Cung Trực Thụ tìm đến lãnh đạo bang Shan và gửi tặng một lô vật tư thiết yếu, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh bỗng chốc trở thành sợi dây liên kết để bang Shan duy trì mối quan hệ hữu hảo với người Nhật Bản.
Bắc Cung Ngạn Tuấn nhìn đồng hồ rồi lên tiếng: "Trực Thụ, sớm qua đó đi, bây giờ cũng không còn sớm nữa rồi!"
Thú thật, Bắc Cung Ngạn Tuấn không mấy lạc quan về việc gia chủ có thể tìm thấy số vàng lần này. Chuyện đó đã xảy ra hơn nửa thế kỷ trước, hơn nữa thời điểm đó cũng có người phía Trung Quốc trốn thoát, biết đâu họ đã sớm lấy số vàng đó đi rồi.
Ngoài ra, Bắc Cung Ngạn Tuấn còn một điểm không hiểu nổi. Tổng lượng vàng đó chỉ có hai mươi tấn, tính theo giá vàng khoảng 20 đô la Mỹ một gram vào năm 1998, thì 20 tấn vàng cũng chỉ trị giá khoảng ba bốn trăm triệu đô la Mỹ mà thôi.
Thế nhưng, để tìm kiếm số vàng này, suốt mấy chục năm qua, gia tộc Bắc Cung đã đổ vào không biết bao nhiêu nhân lực vật lực, cộng thêm tòa khách sạn năm sao xây dựng tại Myanmar này, e rằng con số chi phí đã gần bằng với giá trị số vàng kia. Đây cũng là lý do chính khiến nhiều thành viên trong gia tộc Bắc Cung cảm thấy bất mãn.
Dẫn theo Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh, Bắc Cung Ngạn Tuấn và những người khác quay trở lại phòng tổng thống ở tầng mười tám. Bắc Cung Anh Hùng đang ngồi xếp bằng trên chiếu tatami tĩnh tọa dưỡng thần khẽ mở mắt, liếc nhìn Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh rồi nói: "Trực Thụ, để ông ta kể lại quá trình sự việc đi, ta nghe hiểu tiếng Myanmar!"
"Vâng!"
Trên mặt Bắc Cung Trực Thụ không hề lộ ra vẻ khác lạ nào vì cuộc đối thoại vừa rồi. Sau khi đáp một tiếng, gã nhẹ nhàng vỗ vai Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh, nói: "Ông biết những gì thì cứ kể hết cho gia chủ nghe, chúng tôi sẽ đưa ông về!"
Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh với đôi mắt đục ngầu không nhìn thấy vẻ giễu cợt thoáng hiện trên mặt mấy người trong phòng khi Bắc Cung Trực Thụ nói câu đó, ông ta vui mừng đáp: "Được, tôi nhất định sẽ kể hết cho các vị. Nhưng thời gian đã quá lâu rồi, có một số chuyện tôi cũng không nhớ rõ nữa."
"Không sao, ông cứ từ từ nhớ lại." Bắc Cung Anh Hùng xua tay, không hề thúc giục Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh.
"Đó là chuyện của năm 1950, lúc đó tôi mới mười tám tuổi, gia cảnh rất nghèo khó, mỗi ngày chỉ có thể lên núi hái quả dại ăn..." Trong mắt Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh lộ ra vẻ hoài niệm, ông ta chậm rãi hồi tưởng lại câu chuyện xảy ra gần nửa thế kỷ trước.
Do Myanmar trong Thế chiến thứ hai trở thành một trong những chiến trường chính để liên quân Trung - Mỹ - Anh đánh bại thế lực Nhật Bản tại Đông Nam Á, nên những tổn thất chiến tranh mà họ phải gánh chịu lớn hơn nhiều so với các nước láng giềng như Lào và Thái Lan. Dùng từ "tai họa ngập đầu" để hình dung cũng không quá lời.
Mặc dù năm 1950 chiến tranh đã kết thúc được năm năm, nhưng Myanmar với địa hình núi non hiểm trở, đường sá khó đi, kinh tế không hề phát triển. Trái lại, vì vật tư trong nước bị người Nhật cướp bóc sạch sành sanh trong thời chiến, cuộc sống càng trở nên nghèo khổ hơn.
Lúc bấy giờ, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh sống tại vùng núi bang Shan, nơi giáp ranh giữa Myanmar, Lào và Trung Quốc. Nơi này không bị khói lửa chiến tranh chạm tới, nhưng cuộc sống của người dân cũng vô cùng khốn khó. Nếu không dựa vào núi rừng, họ căn bản không thể sống nổi.
Dẫu vậy, vì thiếu muối, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh lúc đó vô cùng gầy gò. Mười tám tuổi mà trông ông chỉ như đứa trẻ mười hai, mười ba tuổi. Cả nhà đều dựa vào việc hái thuốc trong rừng sâu đem bán để đổi lấy những nhu yếu phẩm hằng ngày.
Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh nhớ rất rõ, sự xuất hiện của một đội ngũ hơn hai mươi người đã khiến ngôi làng nhỏ chỉ có hơn một trăm nhân khẩu của họ trở nên sôi động. Bởi vì những người Trung Quốc này đã mang đến rất nhiều muối và những vật tư mà họ thiếu thốn nhất.
Điều kiện trao đổi của những người đó có chút kỳ lạ, họ cần mượn hơn bốn mươi con la ngựa của dân làng, chỉ dùng trong một ngày, ngày hôm sau sẽ trả lại.
Bang Shan giáp ranh với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, thời đó biên giới chưa được phân định rõ ràng, người hai nước có thể qua lại tự do, giao thương buôn bán thường xuyên. Thêm vào đó, cư dân hai nơi đều rất chất phác, trong đầu chưa hề có khái niệm về "thương nhân gian xảo".
Vì vậy, cuộc giao dịch diễn ra rất suôn sẻ. Đến chập tối ngày hôm sau, những người Trung Quốc kia quả nhiên giữ đúng lời hứa trả lại la ngựa, chỉ là có ba con bị ngã chết trên núi, họ đã đền bù thêm một khoản tiền.
Theo lý mà nói, đây chỉ là một cuộc giao dịch bình thường, chẳng có gì kỳ lạ. Nhưng với tư cách là người dắt la ngựa cho người Trung Quốc lúc đó, những gì Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh nhìn thấy lại không hề đơn giản như vậy.
Sau khi đưa la ngựa đến địa điểm mà người Trung Quốc chỉ định, vì tò mò, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh lúc đó không rời đi ngay mà leo lên một ngọn núi khác, từ đó quan sát hành động của những người Trung Quốc này.
Ông phát hiện, những người Trung Quốc đó treo hàng chục chiếc thùng gỗ lên lưng la ngựa, rồi tiến vào một vùng cấm địa trong dãy núi của họ. Đó chính là nơi mà người dân địa phương nghe đến đã biến sắc: Núi Ma Quỷ.
Trong tâm trí người Myanmar, có hai nơi tuyệt đối không được đặt chân đến. Một là "Núi Dã Nhân" nằm ở phía bắc Myitkyina, nơi núi cao rừng rậm, chướng khí độc hại hoành hành. Nghe đồn trước kia từng có dã nhân xuất hiện, nên vùng đất bán kính hàng trăm cây số đã trở thành khu vực không người.
Thời kỳ kháng chiến chống Nhật, 15.000 quân thuộc Quân đoàn 5 Trung Quốc vượt qua Núi Dã Nhân để đến Ấn Độ, chỉ còn lại ba, bốn ngàn người, không bằng một phần lẻ. Trong tổng số 10 vạn quân Viễn chinh Trung Quốc vào Myanmar tham chiến, số người hy sinh vì chiến đấu là khoảng hơn 1 vạn, nhưng lại có tới 5 vạn người chết trong Núi Dã Nhân.
Vì vậy, Núi Dã Nhân đã gây chấn động toàn thế giới. Sau chiến tranh, dù học giả các nước đều vào trong đó khảo sát, nhưng do môi trường địa lý quá khắc nghiệt, cuối cùng đều quay về tay trắng.
Còn một cấm địa khác của Myanmar chính là Núi Ma Quỷ nằm ở khu vực bang Shan. Nơi đó cũng là núi non trùng điệp, rừng rậm như biển, đầm lầy trải dài, thung lũng hiểm trở, thú dữ hoành hành, chướng khí sốt rét lan tràn. Chỉ vì nằm sâu trong nội địa bang Shan nên người đời không mấy ai hay biết.
Điều khiến người ta sợ hãi ở Núi Ma Quỷ không chỉ có thế. Trong núi có rất nhiều hang đá, cửa hang trông như những khe vực. Khi mới vào thì không cảm thấy gì, nhưng khi đã đi sâu vào bên trong, mới chợt nhận ra mình đã rơi vào trong hang.
Những hang đá này đan xen chằng chịt như mê cung, hơn nữa bên trong còn sinh sống rất nhiều loài trăn rừng ưa bóng tối và mát mẻ. Mắt của những con trăn này hầu như đã thoái hóa hoàn toàn, nhưng khứu giác và thính giác lại cực kỳ nhạy bén. Một khi có động tĩnh, rất có thể sẽ dẫn đến sự bao vây của cả đàn trăn.
Cho nên, một khi con người đi vào đó thì cơ hội sống sót gần như bằng không. Đối với người dân bản địa bang Shan, vào Núi Ma Quỷ có lẽ còn có thể sống sót trở ra, nhưng nếu vô tình lạc vào những hang đá này, thì chỉ có con đường chết.
Người bang Shan sinh ra gần Núi Ma Quỷ từ nhỏ đã được người lớn răn dạy tuyệt đối không được vào núi. Trước năm mười tám tuổi, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh chưa bao giờ dám bén mảng đến gần núi một bước.
Vì thế, khi nhìn thấy những người Trung Quốc lùa la ngựa vào núi, phản ứng đầu tiên của ông là sau này trong làng sẽ không còn súc vật để cày cấy nữa, bởi trong ấn tượng của ông, chưa từng có người hay súc vật nào vào Núi Ma Quỷ mà còn sống trở ra.
Vì tò mò, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh vẫn luôn canh giữ ở nơi có thể nhìn thấy lối vào Núi Ma Quỷ. Một ngày sau, chuyện khiến ông chấn động đã xảy ra: những người Trung Quốc kia lại lùa la ngựa từ trong núi đi ra.
Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh tinh ý phát hiện, ban đầu có tổng cộng năm mươi sáu con la ngựa và hai mươi tám người đi vào, nhưng khi ra chỉ còn lại năm mươi con la ngựa và hai mươi lăm người. Nghĩa là chuyến đi này họ tổn thất sáu con la ngựa và ba người.
Sau khi những người Trung Quốc trả lại la ngựa, đền bù tổn thất rồi rời đi, trái tim trẻ tuổi của Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh bắt đầu xao động. Người Trung Quốc vào Núi Ma Quỷ để làm gì? Tại sao họ lại có thể bình an trở ra? Những nghi vấn này luôn khiến ông băn khoăn không dứt.
Hai năm sau, nội chiến Myanmar bùng nổ, ngôi làng nhỏ vốn đã khó khăn lại càng bị ảnh hưởng. Nhiều vật tư cần thiết từ bên ngoài không thể lấy được nữa, nhiều thanh niên trong làng đã rời bỏ núi rừng, gia nhập vào cuộc kháng chiến chống quân chính phủ.
Nhưng Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh không rời đi. Ông đem bí mật giấu kín trong lòng suốt hai năm kể cho ba người bạn thân từ thuở nhỏ.
Dựa trên những gì Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh quan sát được, họ nhanh chóng đi đến kết luận: những chiếc thùng gỗ mà người Trung Quốc mang theo chắc chắn chứa một khối tài sản khổng lồ, và số tài sản đó hiện đang được cất giấu trong Núi Ma Quỷ.
Người xưa có câu "tiền tài làm lay động lòng người", nếu có thể lấy được số tài sản đó, họ có thể rời khỏi Myanmar nghèo khó để đến các quốc gia khác sinh sống. Dưới sự cám dỗ to lớn này, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh và những người bạn cuối cùng đã quyết định: tiến vào Núi Ma Quỷ!
Quyết định này là điều mà cả đời Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh không bao giờ quên được. Thậm chí trong hơn bốn mươi năm sau đó, ông luôn ở trong trạng thái tinh thần không bình thường, cho đến khi gặp Bắc Cung Trực Thụ. Sau một thời gian điều trị bằng thuốc, Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh mới dần hồi tưởng lại những chuyện cũ đã bị ông phong ấn gần nửa thế kỷ.
Nói đến đây, đôi mắt đục ngầu của Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh lại lộ ra vẻ kinh hoàng, miệng bỗng mím chặt, hai tay khua khoắn loạn xạ trong không trung, lớn tiếng gào thét: "Tránh xa ta ra, ma quỷ, mau tránh xa ta ra!"
"Baka? Chuyện này là sao?" Vào thời khắc mấu chốt này mà Đức Khâm Ba Đăng Đỉnh lại im bặt, Bắc Cung Anh Hùng tức giận đứng bật dậy, chỉ muốn vươn tay bóp cổ ông ta.
Phải biết rằng, đây là thông tin giá trị nhất mà Bắc Cung Anh Hùng nghe được trong suốt gần năm mươi năm tìm kiếm số vàng đó.