Mãi cho đến giữa trưa, Phương Vận vẫn chưa đặt bút viết.
Đề tài thơ từ lần này yêu cầu khá phổ thông, ngoài loại "Biên tái" gần như bắt buộc phải thi, còn có ba loại khác là "Hương cảnh", "Cần học" và "Tống biệt", đồng thời quy định phải làm theo thể sáu vận.
Sau khi dùng cơm trưa, Phương Vận mới lấy ra một tờ giấy trắng, viết viết vẽ vẽ trên đó, cuối cùng quyết định viết một bài thuộc loại hương cảnh, lấy vận "bao đao", viết bài "Ức hương".
"Hà biên bạn thanh thảo..."
Viết xong "Ức hương", Phương Vận cất thơ từ đi, lật từng tờ trong xấp bài thi dày cộp. Sau năm trang, cậu lấy ra đề mục Kinh nghĩa.
Phương Vận chăm chú nhìn bốn chữ "Duy dân sở chỉ", trên mặt thoáng hiện nét cười, đoạn trầm tư suy nghĩ.
"Duy dân sở chỉ" nếu giải thích theo nghĩa đen, chính là nơi người dân sinh sống. Xuất phát từ "Thi Kinh - Huyền Điểu", cả câu là "Bang kỳ thiên lý, duy dân sở chỉ, triệu vực bỉ tứ hải". Ý nói lãnh thổ nhà Thương rộng lớn, người dân an cư lạc nghiệp.
Bốn chữ này khiến Phương Vận nhớ tới điển cố của nước Hoa Hạ cổ đại.
Thời Mãn Thanh, ba đời vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long vì muốn bảo vệ hoàng quyền đã đại hưng văn tự ngục. Hễ ai có ý tứ ám chỉ Mãn Thanh đều bị tịch biên gia sản, chém đầu. Tổng cộng có gần hai trăm vụ án lớn, riêng thời Càn Long đã xảy ra một trăm ba mươi vụ. Trong những vụ văn tự ngục này, người thực sự có lòng phản nghịch chưa tới một phần mười, chín phần mười là án oan.
Thời Ung Chính, cử nhân Uông Cảnh Kỳ từng viết bài nói rằng những hoàng đế có niên hiệu mang chữ "Chính" đều không có kết cục tốt đẹp, nguyền rủa Ung Chính và Khang Hy, lại còn cấu kết với Niên Canh Nghiêu, kết quả bị xử tử.
Nếu Uông Cảnh Kỳ vì hận nhà Thanh mà ghét Khang Hy, Ung Chính thì quả là nghĩa sĩ đường hoàng, nhưng Uông Cảnh Kỳ thuần túy là vì trút giận cá nhân, ngay cả ở hậu thế cởi mở cũng bị coi là phỉ báng. Thế nhưng "Án Duy dân sở chỉ" sau đó lại là một vụ án oan.
Vài năm sau khi Uông Cảnh Kỳ chết, trong đề thi Kinh nghĩa do Học chính Giang Tây là Tra Tự Đình ra có chứa hai chữ "Chính" và "Chỉ", phạm vào điều kiêng kỵ của Ung Chính nên bị tra xét nghiêm ngặt, cuối cùng bị tịch biên gia sản và chém đầu.
Người đời sau để châm biếm Ung Chính, bèn mượn câu "Duy dân sở chỉ" trong "Thi Kinh" làm đề Kinh nghĩa, bởi vì hai chữ "Ung Chính" nếu bỏ phần đầu đi, chính là "Duy" và "Chỉ".
Phương Vận nhớ lại những vụ văn tự ngục tàn khốc thời nhà Thanh, rồi lại nghĩ đến Thánh Nguyên đại lục ngày nay, hai thời đại quả thực là hai thái cực. Thánh Nguyên đại lục vốn dĩ ngôn luận cởi mở, nhưng hiện tại rất nhiều lời nói không còn là ngôn luận nữa mà là mắng nhiếc, người nói mang mục đích làm tổn thương người khác, thậm chí có kẻ còn âm thầm liên kết để bôi nhọ.
Phương Vận sớm đã biết người nước Khánh, nước Võ luôn tung tin đồn nhảm về mình, nhưng mãi không hiểu tại sao bọn họ lại làm vậy, cho đến khi nghe Lý Văn Ưng nói một câu mới hiểu ra.
"Cỏ nhìn cây cao, không thấy gốc rễ sâu dày, chỉ hận nó cướp mất ánh mặt trời. Côn trùng chuột bọ nhìn voi lớn, không thấy bốn mùa bôn ba, chỉ tưởng nó tranh ăn đồ bẩn mà to lớn."
Phương Vận đột nhiên mỉm cười, nhớ tới nước Khánh có một "Ô vân văn hội", ý là "làm bẩn Phương Vận". Nếu không phải tận tai nghe Tông Ngọ Đức nói, thậm chí từng thấy những lời bôi nhọ bọn họ viết ra, cậu căn bản không tin trên đời lại có kẻ ti tiện đến thế.
Phương Vận khẽ lắc đầu, gạt bỏ mọi tạp niệm, tập trung giải đề.
"Duy dân sở chỉ, nghĩa bề mặt là nơi ở của nhân tộc, nghĩa bên trong là người dân an cư lạc nghiệp, nhưng hai câu trước sau của nguyên văn 'Thi Kinh' lại liên quan đến cương vực nhà Thương. Bài Kinh nghĩa này nếu muốn đạt loại ưu, tất nhiên phải hiểu được dụng ý thực sự của vị Bán Thánh ra đề. Chỉ riêng bước này thôi đã đủ để phân định cao thấp giữa các Tú tài."
"Ý của 'Duy dân sở chỉ', nếu lấy nghĩa thấp, là người dân an cư; nếu lấy nghĩa trung, là cương vực nhân tộc mãi mãi vững bền, không bị yêu man xâm lược; nếu lấy nghĩa cao, là nơi nào con người đặt chân tới đều là cương vực của nhân tộc ta! Phải giải nghĩa trước, rồi mới phá đề!"
Phép phá đề có sáu loại: Minh phá, Ám phá, Thuận phá, Nghịch phá, Chính phá và Phản phá. Cũng chia thành phá ý, phá câu hoặc phá chữ.
Phương Vận suy nghĩ một chút, quyết định dùng lối Ám phá, chậm rãi viết lời phá đề lên bản nháp.
"Thiên mệnh tại nhân, nhiên thiên vô tận dã!"
(Thiên mệnh ở nơi con người, nhưng trời đất là vô tận!)
Câu này lấy "nhân" thay cho "dân", lấy "thiên" thay cho "chỉ", là lối Ám phá điển hình. Chữ "vô tận" trong đó bao hàm cả cương vực hai câu trước sau của "Duy dân sở chỉ", mà lại không lạc đề, bởi trọng tâm của phá đề là "Thiên mệnh tại nhân".
"Thiên mệnh tại nhân" nghĩa là con người chính là sinh linh ưu tú nhất giữa trời đất, vậy người dân đương nhiên nên được an cư lạc nghiệp, mà trời đất vô tận, cho nên con người có thể an cư ở bất cứ nơi đâu.
Đại Nho có thể cảm ứng họa phúc, tâm chí thành có thể biết trước sự việc. Viết xong câu này, Phương Vận chỉ cảm thấy trong lòng vô cùng định tĩnh, như thể trong cõi u minh đã khế hợp với một loại Thánh đạo, tâm thần, Văn đảm, Văn cung đạt đến sự thống nhất cao độ. Toàn bộ sức mạnh trong cơ thể vào khoảnh khắc này đều được huy động, tài khí nhanh chóng thiêu đốt, sức mạnh của Văn đảm không ngừng chấn động trong Văn cung.
Phương Vận nhìn thấy, trong Văn cung của mình có vô số chữ vàng bay múa, trong nháy mắt hợp thành một bài kinh điển của chúng Thánh rồi lại biến mất, sau đó lại hợp thành văn chương Thánh đạo mới. Chỉ trong chớp mắt, tất cả kinh điển chúng Thánh đều thoáng hiện qua trong Văn cung.
Những cuốn sách từng đọc hóa thành sức mạnh vô hình, khiến thần niệm của Phương Vận vào khoảnh khắc này trở nên mạnh mẽ vô cùng.
Sau khi phá đề là tiếp đề.
Phương Vận tiếp tục viết phần tiếp đề, giải thích sâu hơn cho phần phá đề của mình.
"Phu thiên mệnh giả, dĩ trí luận tự, nhân vi kỳ thượng..."
(Phàm là thiên mệnh, lấy trí tuệ mà luận thứ bậc, con người là đứng đầu...)
Phương Vận trước hết giải thích tại sao con người lại có được thiên mệnh, sau đó đi sâu thảo luận thế nào mới được coi là an cư lạc nghiệp.
Phương Vận lấy chính bản thân làm ví dụ, cùng Dương Ngọc Hoàn nương tựa vào nhau, nghèo khó mà tâm an, nhưng khi Liễu Tử Thành xuất hiện thì nơi ở không còn an ổn. Thế nhưng đợi đến khi mình rời khỏi Tế huyện, đến phủ Đại Nguyên đối mặt trực tiếp với Liễu Tử Thành, nơi ở ngược lại lại được an định.
Tiếp đó, Phương Vận lại lấy ví dụ Khổng Tử đi xuống bốn biển, sang yêu giới, rồi tiến thêm một bước luận giải luận điểm cốt lõi trong bài Kinh nghĩa của mình, cho rằng đã là thiên mệnh của nhân tộc thì nên mở mang bờ cõi, dùng "trời đất vô tận" để bảo vệ "nơi ở hữu hạn", dùng phương thức triệt để nhất để khiến nhân tộc an cư lạc nghiệp.
Sau đó lại trích dẫn danh ngôn của Khổng Tử "Người không lo xa, ắt có ưu phiền gần", để thống nhất "an cư lạc nghiệp" và "trời đất vô tận" làm một.
Đây là Kinh nghĩa, chú trọng vào cục diện vĩ mô, đến đây là đủ. Nếu là viết sách luận, Phương Vận bắt buộc phải viết chi tiết làm thế nào để nhân tộc vừa bảo vệ Thánh Nguyên đại lục, vừa phái nhân tài ưu tú đi chinh phục cổ địa, vân vân.
Viết xong bản nháp một cách sảng khoái, Phương Vận mới phát hiện cả người đẫm mồ hôi, quần áo đều ướt sũng. Tất cả mồ hôi đang chậm rãi bị sức mạnh của Long châu đẩy ra ngoài, nhưng tốc độ thoát mồ hôi của Long châu cực kỳ chậm, những giọt mồ hôi đó nặng như thủy ngân.
Phương Vận cúi đầu nhìn áo, thầm nghĩ đây chính là cảnh giới trong truyền thuyết: tâm chí tận cùng, mồ hôi thành thủy ngân, mỗi giọt mồ hôi đều ẩn chứa thành quả đọc sách, đó là sức mạnh của tinh thần và trí tuệ.
Phương Vận cầm bút chấm mực, định sửa bản thảo, nhưng lại thấy cơ thể hư nhược không chút sức lực. Cậu kinh ngạc, thần niệm nhập vào Văn cung mới phát hiện tài khí và sức mạnh Văn đảm của mình gần như đã cạn kiệt.
Phương Vận mừng rỡ, bài văn nếu có thể tiêu hao tài khí và Văn đảm của bản thân, đó chính là "gần với Thánh đạo" điển hình. Văn chương bình thường tuyệt đối không thể khiến người ta tiêu hao dù chỉ một nửa sức lực.
"May mà mình từng năm lần được tài khí quán đỉnh, lại có Văn đảm thay thế tài khí. Nếu là Tú tài bình thường viết xong bài Kinh nghĩa như thế này, ít nhất cũng phải ốm liệt giường ba ngày, nhưng sau ba ngày đó thì tài khí sẽ đầy tràn, cơ thể khỏe mạnh hơn. Nếu là Đồng sinh viết ra loại văn chương này, ít nhất phải nằm nửa năm. Người đọc sách trước thời Khổng Tử thường ốm yếu bệnh tật, bị chê cười là trói gà không chặt, chính là vì toàn bộ sức lực đều dùng vào việc đọc sách và viết sách, không có tài khí bù đắp."
Phương Vận không nhìn bản nháp nữa, mà uống thật nhiều nước, ăn một ít lương khô rồi lên giường ngủ ngay.
Viết văn trong khoa cử hoàn toàn khác với luyện tập bình thường, bởi khoa cử liên quan mật thiết đến Thánh đạo.
Luyện tập bình thường chỉ là học hỏi Thánh đạo, còn khoa cử chính là chạm tới Thánh đạo!
Bài thi khoa cử, đều là sản phẩm giao thoa giữa tư tưởng và Thánh đạo.
Thỉnh Thánh ngôn hay thơ từ còn đỡ, chứ mỗi một chữ trong Kinh nghĩa và Sách luận đều phải hao tổn nhiều tinh lực hơn. Lần này lại hao tổn cả tài khí và Văn đảm, Phương Vận ngủ một mạch đến tám giờ sáng hôm sau mới tỉnh, ngủ tròn sáu canh giờ.
Tỉnh dậy, Phương Vận ăn cơm xong rồi xem lại bài Kinh nghĩa của mình, phát hiện không thể sửa thêm được nữa, bản nháp này hoàn toàn có thể dùng làm bài văn chính thức. Phương Vận trong lòng nghi hoặc, bèn tỉ mỉ hồi tưởng, bỗng chốc phát hiện ra một vấn đề.
Bài "Ức hương" làm xong vào buổi chiều, nếu tính theo thời gian quân đội tiện lợi thì khoảng ba giờ chiều, mình lại suy nghĩ thêm hai khắc đồng hồ nữa. Bài "Duy dân sở chỉ" này chỉ hơn một ngàn chữ, theo lý thuyết thì chậm nhất đến năm giờ rưỡi chiều là phải viết xong. Thế nhưng trong ký ức, lúc viết xong Kinh nghĩa trời đã tối đen, ít nhất cũng phải bảy giờ rưỡi tối.
"Một canh giờ ở giữa đã đi đâu mất rồi?"
Phương Vận cẩn thận hồi tưởng, chợt bừng tỉnh. Sau khi viết xong phần phá đề, trong Văn cung hiện ra tất cả những kinh điển chúng Thánh mình từng đọc, bản thân cảm thấy chỉ trong một khoảnh khắc, nhưng thực tế đã trôi qua tròn một canh giờ.
"Thật kỳ diệu. Khổng Tử từng phát phấn đọc sách, không biết từ lúc nào phát hiện mình đã già, trước kia cứ ngỡ chỉ là một cách ví von, nhưng bây giờ mới hiểu, năm đó Khổng Thánh có lẽ đã đắm chìm trong Thánh đạo, thậm chí ngay cả thời gian cũng có thể thay đổi."
Phương Vận lại lắc đầu, vẫn cảm thấy Khổng Tử trước khi phong Thánh không thể làm được đến mức độ đó.
Phương Vận không dám lơ là, lặp đi lặp lại việc nhẩm đọc bài Kinh nghĩa "Duy dân sở chỉ" của mình, từng chữ từng câu suy xét, phát hiện thực sự không thể sửa thêm, trên mặt hiện lên nụ cười nhạt, mơ hồ hiểu được đạo lý của một canh giờ trôi qua trong khoảnh khắc đó là gì.
"Bài Kinh nghĩa này nếu luận về tầng thứ, nên tương đương với bài 'Phi lễ chi lễ' trong kỳ thi Tú tài. Tuy nhiên, trong 'Phi lễ chi lễ' ẩn chứa đạo lý không nên có ở thời đại này nên mới gây ra dị tượng. Còn đạo lý trong bài 'Duy dân sở chỉ' này, trong kinh điển chúng Thánh đã xuất hiện rồi, cho nên giá trị không bằng 'Phi lễ chi lễ', vì vậy không gây ra dị tượng."
Phương Vận thấy nhẹ nhõm, viết xong bài này, trình độ Kinh nghĩa của cậu tiến thêm một bước, chứng tỏ những ngày nỗ lực này không hề uổng phí. Đặc biệt là sự mài giũa ở Thánh Khư, nếu không có sự giao lưu với cử tử mười nước, nếu không có trải nghiệm ở Thánh Khư và cổng vào yêu tộc, không thể nào có cảm ngộ sâu sắc đến vậy.
Phương Vận tâm trạng thư thái, không trực tiếp xem đề thi Sách luận phía sau, mà đi sửa lại bài thơ của mình.
Đang sửa, bỗng thấy vài sai dịch vội vã đi ngang qua, chẳng bao lâu sau, sai dịch khiêng một Tú tài đang hôn mê chạy ra ngoài.
Trong trường thi nơi nào cũng có tiếng thở dài.
Phương Vận lại thấy như không có gì lạ, lúc thi Tú tài đã có hơn mười người xảy ra sự cố, kỳ thi Cử nhân này mới qua một ngày mà đã có khoảng bảy tám người gặp chuyện.
Mà kỳ thi Tiến sĩ sau đó còn gọi là nước sôi lửa bỏng, bởi thi Tiến sĩ không chỉ thi về ngôn từ, mà còn thi về hành vi, cực kỳ phức tạp, không phải cứ làm xong bài thi là kết thúc.
Khoa cử chính là sự va chạm và cộng hưởng giữa tư tưởng và Thánh đạo, sơ sẩy một chút là có thể bị tâm thần nhiễu loạn.
Còn hai ngày nữa, Phương Vận quyết định dùng một buổi sáng để sửa thơ từ, một ngày rưỡi cuối cùng dùng để viết Sách luận.
Buổi sáng trôi qua rất nhanh, Phương Vận thấy hơn hai mươi Tú tài trẻ tuổi chủ động rời khỏi trường thi.