Lao Sơn, còn gọi là Bất Kỳ Sơn, nằm ở vùng duyên hải phía đông nam Thanh Châu, là đỉnh núi cao nhất trong đường bờ biển dài hàng ngàn dặm của Hoa Hạ, được ca tụng là "Đệ nhất danh sơn" trên biển. Người đời có câu "Thái Sơn tuy vân cao, bất như Đông Hải Lao". Khu vực núi non rộng mấy chục dặm, có hàng chục đỉnh núi, hai ba mươi con sông, đường bờ biển bao quanh phía đông nam núi dài gần hai trăm dặm, có mười ba vịnh biển cùng mười sáu hòn đảo lớn nhỏ.
Lao Sơn chính là nơi phát tích của Đạo giáo. Từ thời Xuân Thu, nơi đây đã quy tụ một nhóm phương sĩ tu thân dưỡng tính. Sử chép Ngô Vương Phù Sai từng lên Lao Sơn nhận được Linh Bảo Độ Nhân Kinh. Đến cuối thời Chiến Quốc, Lao Sơn đã trở thành "Đông Hải tiên sơn". Năm Kiến Nguyên thứ nhất thời Tiền Hán Vũ Đế, Trương Liêm Phu đến Lao Sơn dựng am cỏ thờ Tam Quan, thu nhận đồ đệ tế bái, đặt nền móng cho Đạo giáo tại Lao Sơn. Lúc bấy giờ, Lao Sơn vẫn chưa có các giáo phái nổi tiếng sau này như Linh Bảo phái, Thượng Thanh phái, Mao Sơn tông, nhưng lại là nơi có Thái Bình Đạo hưng thịnh nhất.
Thái Bình Đạo thực chất bắt nguồn từ học thuyết Hoàng Lão. Học thuyết Hoàng Lão là một trong Bách gia thời Tiên Tần, có tính bao hàm rộng lớn. Bên cạnh việc lấy Đạo và Pháp làm chủ đạo, nó còn kết hợp tư tưởng của Âm Dương gia, Nho gia, Mặc gia và Danh gia, tạo thành một hệ thống tư tưởng trị quốc tương đối hoàn bị. Nó đề cao quan niệm Hình Đức, chủ trương ân uy song hành để củng cố chính quyền. Đầu thời Tây Hán, người ta dùng học thuyết Hoàng Lão để trị quốc kinh thế, nghỉ ngơi lấy sức, tạo nên Văn Cảnh chi trị. Đến khi Hán Vũ Đế bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật, học thuyết Hoàng Lão trở thành môn học tu thân dưỡng tính, nhưng vẫn không mất đi tính chất tích cực hướng thượng.
Thế nhưng đến mấy chục năm cuối thời Hậu Hán, một số phương sĩ đã trộn lẫn học thuyết Hoàng Lão với các phương thuật như cầu tiên trường sinh, tế lễ quỷ thần, sấm vĩ phù lục, tôn Hoàng Đế và Lão Tử làm thần tiên, từ đó hình thành Đạo giáo nguyên thủy. Sớm nhất là Thiên Sư Đạo, thay thế các hủ tục tế tự vu thuật nguyên thủy, có đức giáo hóa hướng thiện. Thái Bình Đạo hưng khởi sau đó cũng có giáo nghĩa hướng người ta làm điều thiện, nhưng nay đã mất đi ý nghĩa ban đầu, trở thành căn nguyên gây họa loạn cho địa phương.
Phương thức truyền đạo chính của Thái Bình Đạo là dạy người ta dập đầu hối lỗi, dùng phù thủy chú ngữ để trị bệnh, mê hoặc rất nhiều bách tính. Người được chữa khỏi bệnh thì bảo là phù thủy linh nghiệm, chữa không khỏi thì trách là lòng người không thành tâm.
Thái Bình Đạo phát triển cực nhanh, tín đồ vô số, nhưng tổng đàn lại vô cùng kín đáo. Trong khắp Lao Sơn có Thái Ất Tiên Động cùng mười mấy đạo quán của Đạo gia, cộng thêm sơn tặc, hải tặc hoành hành trên các đỉnh núi, trở thành lớp ngụy trang tốt nhất cho tổng đàn Thái Bình Đạo. Với hàng chục đỉnh núi như vậy, người thường căn bản không thể tìm ra.
Lúc này, tại một sườn núi phía đông nam Lao Sơn, Sử A và Thái Sử Từ dẫn theo thân vệ ẩn mình trong rừng rậm, nhìn về phía một đạo quán không lớn cách đó không xa.
Ngay phía sau đạo quán này ẩn giấu một hang núi khổng lồ nằm sâu trong lòng núi. Ngoài cửa động có ba mươi sáu Hoàng Cân Lực Sĩ canh gác, kẻ nào kẻ nấy đầu quấn khăn vàng, thân mặc áo vàng, vạm vỡ cường tráng. Đây là đội hộ đạo binh được Thái Bình Đạo tuyển chọn kỹ lưỡng, tổng cộng có tám trăm người, sức chiến đấu mạnh hơn nhiều so với quân Khăn Vàng thông thường.
Trong hang núi đuốc sáng trưng, có ba pho tượng khổng lồ, mỗi pho cao mấy trượng, lần lượt là Hoàng Đế, Lão Tử và Hoàng Thiên Thái Ất. Hoàng Đế và Lão Tử là những vị thần được tất cả các phái Đạo giáo tôn thờ, còn Hoàng Thiên Thái Ất là vị thần chỉ riêng Thái Bình Đạo tôn phụng. Ngoài thần tượng còn có các loại nhạc cụ đạo tràng như quản, sênh, đàn cổ, vân la, đang tử, não, khánh cùng ba mươi sáu chiếc bồ đoàn.
Đây chính là tổng đàn của Thái Bình Đạo. Ngày thường, các thành viên cốt cán của Thái Bình Đạo đều đi truyền đạo ở khắp nơi, nhưng mỗi khi có việc lớn hoặc lúc tế thần, họ sẽ tụ họp về đây.
Lúc này trong hang có hơn hai mươi người, ai nấy đều mặc đạo phục, ngồi trên bồ đoàn. Người đứng đầu là một đạo sĩ hạc phát đồng nhan, ba chòm râu dài bay phất phơ, nhắm mắt tĩnh tọa, không đoán ra được tuổi tác.
Ông ta chính là đạo chủ của Thái Bình Đạo - Cung Sùng, đệ tử của Vu Cát ở Lang Gia. Người này có chí hướng hưng thịnh Thái Bình Đạo. Khoảng hơn năm mươi năm trước, thời Thuận Đế, Cung Sùng từng dâng "Thái Bình Thanh Lĩnh Thư" lên triều đình, muốn lấy Thái Bình Đạo làm quốc đạo, nhưng bị quan hữu ty tấu hặc là yêu vọng không căn cứ. Sau đó ông ta truyền đạo ở vùng Thanh, Từ, lấy Nam Hoa làm đạo hiệu. Hơn hai mươi năm trước từng truyền dạy Thái Bình Đạo cho Trương Giác, muốn hưng đạo ở Trung Nguyên, nhưng những động tĩnh mà Trương Giác gây ra lại vượt quá dự liệu của ông ta.
Bên trái Cung Sùng là một thiếu nữ, bộ đạo phục màu vàng lúa che khuất dáng người thướt tha, tuổi chừng hai mươi sáu, hai mươi bảy, dung mạo vô cùng xinh đẹp. Cô ta là Thánh nữ của Thái Bình Đạo, cũng là cháu họ của Cung Sùng.
Bên phải Cung Sùng là một đạo sĩ béo, vẻ mặt cười tủm tỉm nhưng ánh mắt thỉnh thoảng lại liếc về phía thiếu nữ. Ông ta là Vu Nha, tộc nhân của Vu Cát, địa vị trong Thái Bình Đạo rất cao, chỉ đứng sau Cung Sùng.
Ba người họ có địa vị cao nhất, hơn hai mươi đạo sĩ còn lại cũng có cả nam lẫn nữ, trong đó có người ăn mặc như vu chúc, có người mặc thường phục, mỗi người mỗi vẻ, nhưng thần tình đều vô cùng ngưng trọng và phẫn nộ.
"Đạo chủ." Một đạo sĩ hận giọng nói: "Vị Thanh Châu mục này thật đáng hận. Thanh Châu rộng lớn như thế, đi đâu không đi, lại cứ nhằm vào Đông Lai. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi đã phá hủy hơn mười thần đàn của chúng ta, đệ tử tổn thất nặng nề. Đạo chủ mau nghĩ cách đi, cứ thế này thì chúng ta không cách nào truyền đạo được nữa."
"Đúng vậy, đạo chủ mau nghĩ cách đi." Mấy đạo sĩ khác cũng phụ họa kêu khóc.
Vu Nha bên cạnh Cung Sùng hừ lạnh: "Nếu không phải ba mươi vạn giáo đồ đã đầu quân cho Tào Tháo ở Duyện Châu, thì cái tên Thanh Châu mục cỏn con này sao dám làm càn ở Đông Lai!"
Cung Sùng mở mắt, chậm rãi nói: "Năm xưa triệu giáo đồ đều bại dưới tay triều đình, nay tình thế càng gian nan hơn. Tào Tháo là kẻ bất phàm, ba mươi vạn giáo đồ đầu quân cho hắn, chưa chắc đã không thể tìm ra một con đường hưng thịnh cho Thái Bình Đạo chúng ta."
Vu Nha nói: "Nay Thanh Châu mục ép người quá đáng, phá hoại thần đàn của chúng ta, bọn ta phải làm sao đây?"
Cung Sùng im lặng một lát: "Còn phải phiền chư vị phát động giáo đồ. Vị Thanh Châu mục này mất đi căn cơ ở Đông Lai thì chẳng đáng kể gì, hắn không thể nào giết hết lê dân Đông Lai được."
Một đạo sĩ phía dưới lên tiếng: "Mấy ngày nay chúng ta đã phát động giáo đồ kháng cự, chỉ là bị bắt đi rất nhiều. Vị Thanh Châu mục này rất hung ác, chúng ta tổn thất nặng nề."
"Nhớ năm xưa kẻ ác Hoàng Phủ Tung đã giết hai mươi vạn giáo đồ, chúng ta không thể không lấy đó làm bài học." Vu Nha đảo mắt, nói: "Chi bằng phái Lực Sĩ ám sát tên giặc này, đổ tội là thiên khiển."
Đám đạo sĩ phía dưới nghe kế sách của Vu Nha liền lập tức tán đồng. Vốn dĩ họ đang sống rất sung túc ở Đông Lai, lại được giáo đồ và bách tính tôn sùng, nay lại bị Thanh Châu mục phá hoại nên ai nấy đều nghiến răng căm hận vị Thanh Châu mục mới nhậm chức này.
Thánh nữ bên cạnh Cung Sùng nhíu mày: "Vị Thanh Châu mục này ra tay bất phàm, chỉ sợ hắn cũng sẽ đến tập kích tổng đàn..."
Vu Nha cười lớn: "Thánh nữ lo xa quá rồi. Tổng đàn của Đạo ta ẩn trong núi này hơn mười năm nay, chưa từng có ai phát hiện, chưa kể ngày thường chúng ta cũng đâu có ở tổng đàn này, tên giặc đó có đến thì đã sao?"
Chẳng ngờ lời vừa dứt, bên ngoài đã vang lên tiếng kêu thảm thiết. Tiếp đó, một Hoàng Cân Lực Sĩ canh cửa hớt hải chạy vào, lớn tiếng nói: "Đạo chủ, các vị hộ pháp mau chạy đi, có giặc tập kích, rất hung mãnh!"
Đám đạo sĩ không ai không biến sắc. Chỉ trong chớp mắt, tiếng kêu thảm bên ngoài càng dồn dập hơn, lúc này đến cả sắc mặt Cung Sùng cũng thay đổi.