Kỷ nguyên công nghiệp tinh tế.
Cái gọi là công nghệ cảm ứng sinh học, đúng như tên gọi, là một loại công nghệ kỹ thuật sinh học.
Chúng ta đều biết trung tâm điều khiển của cơ thể người là đại não. Con người truyền tải thông tin thị giác, thính giác cùng những cảm nhận từ cơ thể dưới dạng sóng não về đại não.
Đại não sẽ xử lý những thông tin này, sau đó truyền đạt mệnh lệnh dưới dạng sóng não để điều khiển cơ thể thực hiện các phản ứng tương ứng.
Ví dụ, khi tay chúng ta bị vật nhọn đâm phải, cơ thể lập tức phát ra tín hiệu đau đớn. Tín hiệu này truyền đến đại não, đại não ngay lập tức đưa ra mệnh lệnh phản ứng, yêu cầu bộ phận bị đâm phải rời khỏi vị trí ban đầu.
Tiếp theo, bàn tay sẽ được đưa lên trước mắt để quan sát. Chúng ta sẽ thấy đó là một mảnh vụn gỗ hay vật gì đó đâm vào. Sau khi phân tích và nghiên cứu, đại não sẽ ra lệnh cho tay rút vật thể đó ra khỏi da thịt.
Đây là một quá trình hoàn chỉnh.
Trong đó, những gì chúng ta cảm nhận được (tín hiệu đau đớn), những gì chúng ta nhìn thấy (mảnh vụn gỗ đâm vào da thịt), cùng với phản ứng của chúng ta (rời xa nguy hiểm, rút vật nhọn ra) đều là những bước thực hiện.
Toàn bộ quá trình này, cuối cùng đều được hoàn tất thông qua sóng não. Chúng ta có thể truyền tải mọi trải nghiệm dưới dạng sóng não về đại não, đồng thời dùng chính sóng não đó để ra lệnh cho cơ thể thực hiện phản ứng.
Trọng tâm của công nghệ cảm ứng sinh học chính là nghiên cứu cách đọc hiểu dữ liệu sóng não và cách truyền tải thông tin trực tiếp vào đại não con người dưới dạng sóng não.
Quá trình này chia làm hai phần: một là đọc dữ liệu sóng não từ đại não, hai là chuyển đổi thông tin thành dạng sóng não để đại não tiếp nhận.
Ứng dụng của công nghệ cảm ứng sinh học vô cùng rộng rãi, chưa nói đến những khía cạnh khác, chỉ riêng việc hỗ trợ điều trị cho người khuyết tật đã mang lại lợi ích to lớn.
Lấy người mù làm ví dụ, họ không thể thu nhận thông tin từ thế giới bên ngoài qua đôi mắt. Nếu trang bị cho họ một camera, camera đó sẽ chuyển đổi hình ảnh thành tín hiệu sóng não đưa trực tiếp vào đại não. Điều này tương đương với việc họ có được đôi mắt, khôi phục thị lực và nhìn thấy thế giới bên ngoài.
Tương tự, người khiếm thính có thể đeo thiết bị thu âm, chuyển đổi âm thanh thành sóng não truyền vào đại não, giúp họ khôi phục thính lực như người bình thường.
Nếu tích hợp công nghệ cảm ứng sinh học với máy tính và internet, chúng ta sẽ thấy sự ra đời của các thiết bị thực tế ảo và thế giới ảo.
Hiện nay, chúng ta truy cập mạng thông qua máy tính và điện thoại, dùng mắt để xem thông tin, dùng tai để nghe âm thanh, sau đó đại não mới xử lý những dữ liệu đó để đưa ra phản ứng.
Một khi áp dụng công nghệ cảm ứng sinh học, màn hình điện thoại, máy tính hay loa phát thanh đều có thể bị loại bỏ. Bởi lẽ, mọi thông tin đều có thể được chuyển trực tiếp vào đại não dưới dạng sóng não.
Như vậy, con người không cần dùng mắt để nhìn, cũng không cần dùng tai để nghe, đại não vẫn có thể thu nhận toàn bộ thông tin.
Tương tự, vì máy móc có thể đọc được dữ liệu sóng não, nên việc xử lý thông tin không còn cần đến đôi tay. Chúng ta có thể điều khiển trực tiếp quá trình xử lý dữ liệu bằng đại não.
Lấy việc gõ văn bản làm ví dụ: hiện tại chúng ta cần dùng máy tính hoặc điện thoại để nhập liệu. Nhưng nếu có công nghệ cảm ứng sinh học, ta có thể dùng đại não để điều khiển trực tiếp, lược bỏ khâu dùng tay, tốc độ sẽ nhanh hơn rất nhiều.
Tốc độ gõ phím của con người luôn có giới hạn, trong khi tốc độ tư duy của đại não gần như không có giới hạn. Chỉ cần phần cứng đáp ứng được tốc độ xử lý của đại não, tốc độ nhập liệu sẽ đạt tới mức tối đa.
Khi đó, việc viết mười vạn chữ mỗi ngày không còn là vấn đề, bởi người viết hoàn toàn có thể nằm trên giường và dùng đại não để soạn thảo.
Thậm chí, khi đó mọi người có thể không còn đọc tiểu thuyết theo cách truyền thống, vì trí tưởng tượng của đại não vô cùng phong phú. Lúc đó, hình thức tiểu thuyết có thể chuyển hóa thành các bộ phim dài tập.
Tiểu thuyết sẽ được thể hiện dưới dạng điện ảnh hoặc phim truyền hình trực tiếp trước mắt người xem. Khi ấy, thứ được cạnh tranh không còn là hành văn, mà là trí tưởng tượng và vốn sống.
Tất nhiên, đây chỉ là một khía cạnh nhỏ. Sự xuất hiện của thiết bị thực tế ảo chắc chắn sẽ khiến máy tính và điện thoại truyền thống bị đào thải hoàn toàn.
Sử dụng điện thoại và máy tính trong thời gian dài sẽ khiến thị giác mệt mỏi, làm việc lâu ngày cũng khiến cơ thể và tay chân rã rời. Một khi sử dụng thiết bị thực tế ảo, người dùng hoàn toàn không cần dùng mắt để quan sát; mọi thông tin sẽ được truyền tải dưới dạng sóng não, tốc độ cực nhanh và không gây ra bất kỳ áp lực nào cho thị giác.
Đối với các tác vụ như xem tin nhắn, gửi email hay nghe gọi điện thoại thì không cần phải bàn cãi, độ bảo mật còn được nâng lên một tầm cao mới. Nếu như tin nhắn hay cuộc gọi truyền thống luôn tiềm ẩn nguy cơ bị rò rỉ thông tin, thì việc giao tiếp thông qua thiết bị thực tế ảo bằng cách truyền tải sóng não trực tiếp sẽ đảm bảo tính bảo mật tuyệt đối.
Internet hiện tại đang dần chuyển dịch theo hướng phát triển thế giới thực tế ảo. Tuy nhiên, dù khái niệm này đã xuất hiện nhưng so với một thế giới thực tế ảo đích thực thì vẫn còn khoảng cách rất xa.
Bởi lẽ, việc truy cập mạng hiện nay vẫn đòi hỏi phải dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe và dùng tay để thao tác. Trong khi đó, một thế giới thực tế ảo thực thụ chỉ cần vận dụng đại não, trực tiếp kết nối và điều khiển mọi thứ bằng tư duy.
Trong quá trình học tập tại Tháp Khoa học Kỹ thuật, Tần Nghị hiểu rất rõ rằng một khi công nghệ cảm biến sinh học này được hiện thực hóa từ lý thuyết, toàn bộ các lĩnh vực truyền thống như điện thoại, máy tính và internet sẽ trải qua những biến động kinh thiên động địa.
Thiết bị thực tế ảo chế tạo từ công nghệ cảm biến sinh học sở hữu những ưu thế vượt trội so với máy tính và điện thoại truyền thống. Thế giới thực tế ảo cũng chân thực và sống động hơn internet hiện tại rất nhiều, đủ sức tạo ra cú sốc mạnh mẽ, làm rung chuyển nền tảng của các lĩnh vực hiện có.
Đây chính là lý do Tần Nghị lựa chọn việc triển khai công nghệ cảm biến sinh học trong bước tiếp theo. Bởi vì mọi công nghệ điện thoại, máy tính và internet hiện nay đều đang vận hành trong khuôn khổ do người phương Tây thiết lập; mọi quy tắc và chế độ đều do họ định đoạt, chúng ta gần như không có cơ hội cạnh tranh với họ.
Chỉ khi ứng dụng các công nghệ hoàn toàn mới để đảo lộn toàn bộ ngành công nghiệp và lĩnh vực này, chúng ta mới có khả năng đánh bại họ một cách triệt để.
Thông qua việc nghiên cứu thành công thiết bị thực tế ảo bằng công nghệ cảm biến sinh học, Tần Nghị có thể thiết lập các quy tắc và chế độ mới. Anh có thể tự do thiết kế thế giới thực tế ảo theo ý muốn, thay đổi vị thế và đưa bản thân vào vị trí bất bại.