Thực ra trước Thế chiến thứ nhất, việc các cường quốc phương Tây xâu xé thế giới vẫn chưa đến giai đoạn tranh giành từng tấc đất. Do hạn chế về kỹ thuật hàng hải, năng lực sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật thời bấy giờ, các nước phương Tây chỉ có thể dồn sức lực vào những khu vực quan trọng nhất đối với họ.
Những vùng giàu tài nguyên, thị trường tiêu thụ hàng hóa đông dân, các nút thắt địa chính trị trọng yếu... đó mới là những "báu vật" trong mắt người châu Âu. Còn đối với những vùng đất biệt lập khác, những kẻ thực dân kiêu ngạo này thực sự chẳng buồn ngó ngàng tới.
Đừng nói đến mấy hòn đảo hoang vu trên Thái Bình Dương, ngay cả vùng Alaska rộng lớn chẳng phải cũng được bán đi một cách dễ dàng đó sao? Điều này trong tư duy của người thế kỷ 21 quả thực rất khó tưởng tượng.
Đây là một thời đại cực ác, các cường quốc đang mở rộng thế lực toàn cầu, vô số quốc gia nhỏ bé và nền văn minh bị bóp nghẹt, máu đã đúc nên sự huy hoàng của văn minh châu Âu.
Nhưng đây cũng là một thời đại của cơ duyên lớn, trái đất đâu đâu cũng là những vùng đất chưa khai phá. Chỉ cần bạn có tâm, bạn có thể bố trí trước để mưu cầu phúc lợi cho con cháu đời sau.
Việc bố trí của Tiêu Lạc Thiên ở Nam Thái Bình Dương nhìn qua có vẻ yếu ớt và vô nghĩa, nhưng trong hàng trăm năm sau, chính những tấm bia đá đầy dấu ấn lịch sử này đã trở thành cái cớ tốt nhất để người Trung Quốc mở rộng lợi ích hải ngoại, thậm chí là có căn cứ pháp lý sơ khởi khi tranh tụng ngoại giao.
Đây thực sự là một thời đại rất tốt, trên Nam Thái Bình Dương đâu đâu cũng là những hòn đảo vô chủ và nơi tụ cư của người bản địa. New Zealand và Australia lúc này vẫn chưa phải là một quốc gia, chúng chỉ là mảnh đất để Anh quốc đày ải tội phạm. Tiêu Lạc Thiên thậm chí vẫn luôn tìm kiếm cơ hội xem liệu có thể ký kết với Anh để mua lại một phần đất ở phía bắc Australia hay không.
Nếu có thể, ông thậm chí còn chuẩn bị mua trước khu vực sản xuất quặng sắt lớn nhất Australia là vùng Pilbara. Dù sao thì ở thời đại này, nơi đó hoàn toàn chỉ là một vùng hoang mạc không đáng một xu.
Mấy ngàn người di cư ở Tahiti thực chất chính là một cuộc thử nghiệm về lối di dân kiểu Trung Quốc của Tiêu Lạc Thiên.
Người phương Tây dùng đao súng và Kinh Thánh để thực dân hóa các bộ lạc nguyên thủy, trong khi người Trung Quốc lại sẵn lòng dùng hàng hóa trao đổi và giao lưu văn hóa bình đẳng để thực hiện. Rốt cuộc phương thức nào phù hợp hơn? Không thử một lần thì chắc chắn là không được.
Trong mắt Hạng Anh, phương thức thực dân ôn hòa, thâm trầm này của Trung Quốc tuyệt đối hơn hẳn kiểu thực dân bạo lực của phương Tây. Tuy trông có vẻ hiệu suất không cao nhưng nền tảng gây dựng lại vô cùng vững chắc, sự phản kháng gặp phải cũng là thấp nhất.
Quần đảo Tahiti có không dưới năm vạn người bản địa, trong khi người di cư Trung Quốc chỉ có hơn ba ngàn. Với sự chênh lệch nhân số to lớn như vậy, người Trung Quốc không những không rơi vào thế yếu mà ngược lại, chỉ trong vòng một năm đã kiểm soát được huyết mạch kinh tế của toàn bộ quần đảo Tahiti.
Tất cả người bản địa giờ đây đã hoàn toàn phụ thuộc vào các cảng biển và thôn làng của người Trung Quốc. Thương mại viễn dương của người Trung Quốc đã biến tài nguyên trên đảo Tahiti thành những loại hàng hóa mà rất nhiều người bản địa chưa từng thấy bao giờ, và chính những hàng hóa này đã trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
Con người đều có bản năng theo đuổi cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi người Trung Quốc làm tốt hơn những kẻ phương Tây kia, người bản địa sẽ tự dùng đôi chân của mình để bỏ phiếu.
Thời gian trôi đi từng giây từng phút, mặt trời dần hạ xuống từ chính giữa không trung, phía tây đại dương đỏ rực một mảng, mây ráng chiều đẹp tựa như một bức tranh sơn dầu khổng lồ.
Cảnh đẹp, món ngon, những thiếu nữ bản địa ca múa xinh đẹp, tất cả những điều đó đều không thu hút sự chú ý của Hạng Anh và những người khác. Từng lời nói của năm vị trưởng lão đều được họ cung kính ghi chép lại vào sổ tay.
"Chúng tôi cần thêm nhân lực, và thêm cả tàu thuyền... Chúng tôi có thể mua, không cần Thừa tướng cho không. Ngài có thể cầu xin Ngân hàng Lạc Thiên cho chúng tôi vay vốn được không? Chúng tôi đang rất cần một lượng lớn tàu thuyền, chúng tôi có thể dùng đặc sản ở đây để hoàn trả cả gốc lẫn lãi!"
"Chúng tôi còn cần người đọc sách, cần thầy giáo! Sang năm nơi này sẽ xây học đường, chúng tôi dự định để cả người bản địa vào học. Con cái của thế hệ di dân đầu tiên đã chào đời rồi, chúng tôi không thể để chúng trở thành kẻ mù chữ được!"
"Chúng tôi còn thiếu đủ loại thợ thủ công, thợ đá, thợ rèn, thợ nề... người làm nghề gì chúng tôi cũng cần. Chỉ cần có người, chúng tôi có thể xây dựng nơi này thành một thiên đường cho Thừa tướng!"
"Còn có con tàu sắt trên biển kia, sau này có thể ghé qua nhiều lần hơn không? Nói thật, chỉ cần để chúng tôi thường xuyên nhìn thấy con tàu đó, trong lòng chúng tôi mới thấy đặc biệt yên tâm..."
Các trưởng lão nói không sai, chiếc Trí Viễn đang thả neo trên biển đã trở thành thánh vật trong mắt người dân toàn bộ quần đảo Tahiti. Vô số thuyền độc mộc chở người bản địa thận trọng tiến lại gần.
Những chiến binh bộ lạc và các trưởng lão phải lặp đi lặp lại việc xác nhận chiến hạm này không có ác ý mới dám tiến lại gần từng chút một. Thân tàu nguy nga, mũi tàu hình rồng vàng lấp lánh, đại pháo uy mãnh, cùng những vết cháy sém loang lổ sau vài trận hải chiến, tất cả đều tỏa ra một loại mỹ học bạo lực cực độ đối với những người xung quanh.
Người bản địa không hiểu đây là loại chiến hạm gì, nhưng họ có thể cảm nhận được sát khí mà con quái vật đại dương này tỏa ra, họ thậm chí có thể cảm nhận được vô số oan hồn đang vần vũ quanh những khẩu pháo.
Khoảnh khắc đó họ hiểu ra, những người Trung Quốc thân thiện này thực ra cũng có mặt dữ dằn đáng sợ. Đằng sau vẻ ôn hòa thâm trầm kia cũng ẩn chứa sức mạnh khủng khiếp không kém gì người da trắng.
Khoảnh khắc đó họ trở nên khiêm nhường hơn, thậm chí trực tiếp quỳ lạy cầu nguyện ngay trên thuyền độc mộc.
Hạng Anh quyết định phải khắc sâu thêm ấn tượng cho những người bản địa này. Khi sao trời đầy rẫy, trên tàu Trí Viễn đột nhiên bừng sáng pháo hoa, những quả đạn tín hiệu ngũ sắc lao vút lên không trung, sau đó nổ tung tạo thành hàng vạn đóa hoa lửa rực rỡ.
"A... Oa... Oa la oa la..." Người dân toàn bộ quần đảo Tahiti đều chấn động. Người bản địa nhìn những kỳ tích trên bầu trời, kích động đến mức phủ phục xuống đất.
"Trên bầu trời nở hoa sao? Đó là ma pháp của người Trung Quốc? Kỳ tích! Kỳ tích của người Trung Quốc!"
Trên bờ biển đốt lên vô số đống lửa, mọi người hướng về phía màn trình diễn pháo hoa trên tàu Trí Viễn mà ca múa suốt đêm không ngủ. Còn Hạng Anh và những người mặc lễ phục quân đội kia cũng được thủ lĩnh các bộ lạc coi như thần linh mà quỳ lạy.
Một đêm hoan hỉ, một đêm bận rộn, sau khi tàu Trí Viễn và hạm đội tiếp tế nhận đủ lương thực và nước ngọt, lại mang theo một lượng lớn quà cáp mà người di cư chuẩn bị cho Thừa tướng, sáng sớm hôm sau liền nhổ neo rời khỏi Tahiti.
Về sau, Tiêu Lạc Thiên quả nhiên không để những người di cư này thất vọng. Thêm nhiều thuyền buồm, những lưu dân phá sản từ Thanh quốc, những nho sinh sa sút, cùng một bộ phận cựu binh giải ngũ vì bệnh tật thương tích, dưới sự động viên của Thừa tướng đã bắt đầu di cư đến các quần đảo phía nam Thái Bình Dương.
Cuộc di dân này kéo dài suốt nửa thế kỷ. Kết quả cuối cùng là người Hoa hoàn toàn chiếm ưu thế về dân số ở đây, hơn bảy mươi phần trăm vùng đặc quyền kinh tế biển ở Nam Thái Bình Dương đều trở thành đất riêng của người Trung Quốc, không gian gây dựng cho con cháu đời sau lớn đến mức không thể tưởng tượng nổi.
Tuy nhiên, ngay lúc Hạng Anh và những người khác nhổ neo về nước, Tiêu Lạc Thiên vẫn chưa biết mọi chuyện xảy ra ở đây. Lúc này ông đang ở thành Tuấn Phủ, Phù Tang, bị Hổ Nữu hành hạ như một đứa cháu nhỏ.
Chú thích: Nickname WeChat: Mã Tự Cơ Tâm Tịnh