Muốn biết thế nào là cận chiến trên biển, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng về sự ra đời và phát triển của hệ thống vũ khí phụ trong thời đại tàu bọc thép.
Chiến hạm tác chiến giữa đại dương mênh mông, phía trước không thôn, phía sau không quán, phóng tầm mắt ra xa chẳng thấy bóng dáng đất liền. Khi ấy, con người tự nhiên mong muốn chiến hạm trở thành một kẻ đa năng, hoặc nói cách khác, con người trực tiếp định nghĩa chiến hạm như một hòn đảo di động.
Trong những quy tắc lâu đời của hải quân nhân loại, chiến hạm không đơn thuần là một công cụ lắp ghép từ gỗ và thép, mà nó là lớp vỏ bảo vệ để con người chiến thắng đại dương, là mảnh đất nổi cho phép con người tồn tại trên biển cả.
Dù xét về mặt tình cảm hay nhu cầu thực tế, chiến hạm viễn dương đều giống như một hòn đảo không chìm, cung cấp sự bảo vệ toàn diện cho con người.
Vì vậy, hải quân từ xưa đã có một truyền thống: chiến hạm chính là lãnh thổ di động của một quốc gia. Đây là truyền thống mà cho đến xã hội hiện đại, nhân loại vẫn luôn kiên trì giữ vững.
Thử nghĩ kỹ mà xem, tàu hỏa, ô tô, xe tăng, máy bay... sao không ai nói chúng là lãnh thổ di động của quốc gia? Bất kể là phương tiện giao thông gì, khi bạn đỗ tại quốc gia đó, bạn đều phải tuân thủ luật pháp của quốc gia ấy.
Chỉ có chiến hạm là ngoại lệ. Ngay cả khi không có nhà ngoại giao nào ở trên đó, chiến hạm khi đi thăm các quốc gia khác vẫn mặc nhiên sở hữu quyền miễn trừ ngoại giao, bất kỳ quốc gia nào cũng công nhận chiến hạm này là lãnh thổ của quốc gia sở hữu nó.
Đây là thói quen mà lịch sử để lại cho nhân loại, thói quen cuối cùng biến thành văn hóa, và văn hóa lại biến thành luật pháp quốc tế được mặc nhiên thừa nhận.
Giả sử "Trí Viễn" đỗ tại cửa sông Thames, nơi vốn là lãnh thổ của nước Anh, nhưng trên boong tàu "Trí Viễn", người Anh cũng phải tuân thủ luật pháp của Hoa tộc. Họ buộc phải thừa nhận boong tàu này là lãnh thổ của Hoa tộc, chủ quyền không thể xâm phạm.
Chiến hạm đã được tinh thần nhân loại cải tạo, nó không chỉ là một con tàu, mà còn được gửi gắm biết bao tình cảm của người dân bản quốc, thậm chí trở thành một loại biểu tượng tinh thần.
Chính vì con người có thói quen coi chiến hạm như hải đảo, như lãnh thổ, cộng thêm việc chiến hạm thời kỳ đầu phải đảm đương nhiều trọng trách thám hiểm, nên thiết kế của chiến hạm thiên về hướng đa năng.
Pháo có thể bắn xa, súng trường và cung nỏ dùng cho cự ly gần, dao găm, kiếm và rìu búa có thể dùng cho cận chiến, thậm chí thủy thủ trên tàu còn có thể đơn độc thực hiện tác chiến lưỡng cư trên bờ biển.
Tư duy thiết kế chiến hạm buồm thời kỳ đầu là yêu cầu khả năng ứng phó với nhiều kiểu hỗn chiến, nên trang bị vũ khí vô cùng phong phú.
Khi tàu bọc thép mới ra đời, tư duy của các nhà thiết kế cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quan niệm này. Khi đó, tàu bọc thép của các nước vẫn chưa hình thành quy mô, tức là tư duy tác chiến hàng dọc vẫn chưa xuất hiện.
Trong thời đại tiền thiết giáp hạm (pre-dreadnought), hải quân yêu cầu tàu bọc thép cũng phải trở thành kẻ đa năng: bắn xa có pháo chính, cự ly gần có pháo phụ, trong khoang thủy thủ có thể chứa lượng lớn lính thủy đánh bộ để tác chiến lưỡng cư khi cần thiết.
Trong tâm trí các nhà thiết kế, nếu đã bỏ ra bao nhiêu tiền để chế tạo ra con quái vật thép này mà không vắt kiệt mọi tiềm năng của nó thì chẳng khác nào phạm tội.
Tàu "Trí Viễn" cũng vậy, ba khẩu pháo chính cỡ nòng 210mm là vũ khí thường dùng nhất trong hải chiến, sở hữu độ chính xác và uy lực cao nhất trong hải quân nhân loại ở phạm vi tám cây số. Đa số các trận đánh đều dựa vào pháo chính để hoàn thành, dù sao làm vậy thì tổn thất của tàu "Trí Viễn" cũng là thấp nhất.
Thế nhưng đừng quên, "Trí Viễn" còn sở hữu hệ thống vũ khí phụ mạnh mẽ vô cùng.
6 khẩu pháo phụ nạp hậu Armstrong cỡ nòng 6 inch, mỗi bên mạn tàu có 3 khẩu. 4 khẩu pháo bắn nhanh Hotchkiss cỡ nòng 57mm đặt ở sàn trước và sau, 4 khẩu trên boong. 4 khẩu pháo máy Hotchkiss cỡ nòng 37mm đặt ở đài quan sát trên cột buồm, nóc buồng máy và mỗi bên mạn tàu trước sau 2 khẩu. 4 khẩu súng máy Gatling 6 nòng cỡ 0.45 inch đặt tại đài quan sát trên cột buồm, và mỗi bên mạn sàn trước sau 2 khẩu.
Thậm chí ở đuôi tàu và hai bên mạn tàu "Trí Viễn" còn có bốn ống phóng ngư lôi 18 inch, chỉ tiếc rằng do phía Phổ quá gấp rút, bốn ống phóng ngư lôi đã được lắp đặt xong nhưng đạn dược được cấp thì vẫn chưa sản xuất kịp.
Khi tàu "Trí Viễn" về nước, ngư lôi không được gửi kèm theo tàu mà phải đợi nhà máy quân sự Phổ gia công xong mới vận chuyển riêng sau.
Không có ngư lôi cũng chẳng sao, hệ thống vũ khí phụ mạnh mẽ như thế này cũng đủ khiến tàu "Aleut" phải nếm mùi đau khổ. Trước đây Hạng Anh không nỡ để tàu "Trí Viễn" chịu tổn thương nên chưa bao giờ ra lệnh áp sát để bắn, khiến những vũ khí phụ này không có đất dụng võ.
Còn hôm nay, hải chiến đã đến mức độ trắng trợn liều mạng, lúc này thì không cần phải cân nhắc đến tổn thất nữa.
Cạnh ống khói cao lớn, luồng gió mạnh từ hệ thống tăng áp đột ngột thổi mạnh, luồng gió biển lạnh lẽo giàu oxy bị hút vào, cưỡng ép bơm thẳng vào lò hơi đang cháy rực. Than đá đang cháy rừng rực lập tức bộc phát ra những tiếng rên rỉ đầy phấn khích.
Ngọn lửa từ màu đỏ rực chuyển sang màu xanh thẫm, nhiệt độ tăng vọt, kim đồng hồ đo áp suất lò hơi bắt đầu vọt lên chóng mặt. Chân vịt chìm dưới nước đột ngột tăng tốc độ quay, toàn bộ thân tàu "Trí Viễn" khẽ rung lên, lao thẳng về phía tàu "Aleut".
Tàu "Trí Viễn" vẽ một đường cong nhỏ trên mặt biển, nhanh chóng tiếp cận tàu "Aleut" ở cự ly gần trong vòng một trăm mét. Ở khoảng cách này, quân địch và ta đều có thể rút súng trường ra bắn nhau, chưa kể đến những vũ khí phụ uy lực kia.
"...Toàn hạm khai hỏa... đánh chìm tàu địch..." Tiêu Lạc Thiên cảm thấy cổ họng mình như nghẹn lại, ngay lúc đó, anh cảm thấy boong tàu dưới chân rung chuyển dữ dội, trước mặt một luồng sáng chói lòa phóng vút lên không trung.
Ầm! Ầm! Ầm!... Đó là pháo chính 210mm đang bắn đạn nổ mạnh ở cự ly gần.
Rào... rào... Một âm thanh tựa như mưa rào, đó là tiếng súng máy Gatling và pháo bắn nhanh Hotchkiss đồng loạt khai hỏa. Lúc này, bạn không còn nghe thấy tiếng nổ đơn lẻ nữa, tất cả tiếng nổ hòa quyện vào nhau, rót vào tai người nghe như trận mưa giông sấm sét lớn nhất của ngày hè.
Toàn bộ mạn phải của tàu "Trí Viễn" lập tức bị bao phủ bởi lớp khói thuốc súng dày đặc. Tất cả thủy thủ đều bắn mù, họ hoàn toàn không nhìn thấy tàu địch phía bên kia làn khói đã bị đánh thành bộ dạng thế nào.
"Khai hỏa... khai hỏa... tiếp tục bắn!" Những người điều khiển hỏa lực trên boong tàu không ngừng gào thét. Họ biết rõ trong tiếng nổ dữ dội thế này, xạ thủ căn bản không nghe thấy tiếng gào của mình, nhưng họ vẫn phải gào, họ đang trút bỏ dòng máu nóng trong lòng mình.
Các loại đạn dược không chút hạn chế được trút xuống. Khuôn mặt, bờ vai, lồng ngực, bụng... toàn bộ cơ bắp của các xạ thủ súng Gatling đều rung lên, như thể tất cả xương cốt đều bị xóc rời ra.
Cánh tay và mười ngón tay của người tiếp đạn đều tê dại vì chấn động, ước chừng đến lúc ăn cơm đũa cũng cầm không vững. Họ nhìn nòng súng trong chớp mắt đã chuyển sang màu đỏ sẫm, hơi nóng phả vào mặt, tất cả mọi người đều không thể kiềm chế cảm xúc, há miệng gào thét mà chính bản thân cũng không biết mình đang gào gì.
Sự phản kháng của tàu "Aleut" quá yếu ớt. Từ khi giao chiến, phía bên kia làn khói chỉ bắn được bốn phát đạn. Một phát nổ cạnh pháo chính khiến hai binh sĩ tàu "Trí Viễn" tử trận, còn ba phát đạn còn lại đều trúng vào boong tàu mạn bên của "Trí Viễn".
Tấm thép dày cộp căn bản không thể bị xuyên thủng, ngoài việc một tên xui xẻo bị mảnh đạn làm trầy da đầu ra, thì không còn bất kỳ tổn thất nào khác.
Không biết đã trôi qua bao lâu, những xạ thủ kia cảm thấy như có ai đó đang dùng roi quất vào sau lưng họ, mãi đến lúc này họ mới nghe thấy mệnh lệnh mới nhất.
"Ngừng bắn! Mẹ kiếp, điếc tai rồi à? Ngừng bắn..."