Trẫm

Lượt đọc: 16224 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1350
Tăng nhân khẩu và cải cách chế độ thuế (2)

❊ ❊ ❊

Thời sơ Minh đã xuất hiện kiểu thuế thu lấy cái này đền cái kia, chủ yếu là để giảm bớt áp lực hành chính, đồng thời giảm bớt áp lực kho chứa, cho phép mang lương thực đổi thành ngân lượng, vải vóc để nộp lên. Nhưng kích thước không lớn vì bạc không phải là tiền tệ lưu thông. Khi đó tiền tệ gọi là tiền giấy Đại Minh.

Mãi tới khi Trương Cư Chính ra luật pháp đầu tiên, lấy cái này đền cái kia trở thành chủ yếu, bản sắc trở nên như lời Phí Thuần nói: "Bản sắc triều ta là thực hiện song song lấy cái này đền cái kia vì tiền tệ lưu thông không đủ, rất nhiều người miền núi thậm chí chưa từng thấy tiền. Bây giờ tiền tệ đúc ra hàng năm, tiền đồng nhiều vô số, từ Nam Dương, Triều Tiên, Nhật Bản cũng chảy vào rất lớn lượng tiền đồng, dân gian đã không thiếu tiền. Vì vậy thần đề nghị Phủ Kim Lăng và Cống, Chiết, Tô, Huy, Mân, Việt, Tương,

Ngạc hủy bỏ thuế bản sắc, sau này đổi thành đồng bạc, tiền đồng để đóng thuế. Còn những tỉnh khác thì có thể từ từ, dự tính hoàn thành từng bước trong vòng mười năm."

Triệu Hãn hỏi: "Hủy bỏ cả nghiệp vụ tiền lương của ngân hàng Đại Đồng à?"

Phí Thuần nói: "Không thể hủy bỏ hoàn toàn, nếu không nông dân ắt gặp bóc lột nhưng phải sửa đổi bãi bỏ, chỉ để lại một phần, mỗi huyện giữ một lượng tiền thuế ruộng để đổi. Bệ hạ, trước đây là không có cách nào, sau này có thể hoàn toàn dùng bằng tiền."

Thuế ruộng lưu hành quá nhiều, bổng lộc rất lớn, mỗi lần tới mùa nộp lương thực còn phải thuê người, vận chuyển lương thực cũng sinh ra rất hiêu tiêu hao."

Ngô Ứng Ki cũng nói: "Bệ hạ, chuyển thuế cũng giống như thế, phải cấm trưng thu bản sắc, nếu không hàng năm tiêu hao thực sự rất lớn."

Thuế thương nhân của triều Đại Đồng cơ bản là kéo dài chế độ thuế của Đại Minh, chia ra là thuế ở và thuế chuyển.

Thuế ở có thuế chia cửa, thuế chào đời, thuế trước bạ, thuế rượu, thuế phá sản v. v... Tùy nha môn địa phương thu chứ không nộp lên trung ương có thể hiểu là thuế đất.

Thuế chuyển có thuế quan hệ, thuế rút ra v.v... cần phải chuyển lên trung ương.

Lúc quan thu thuế của thương nhân thì căn cứ vào tình hình thực tế, có ba mươi loại thuế rút ra, mười lăm loại thuế rút ra, mười loại thuế rút ra, mỗi loại có một thuế suất riêng. Thương nhân không quay vòng được tài chính thì phải lấy vật phẩm để rút ra, dùng vải vóc, gỗ và thương phẩm để đóng thuế.

Điều này khiến các nơi giữ tiền giấy đều có kho của mình, chuyên dùng để chất hàng hóa và từng thứ gọi là bản sắc.

Hoàng đế đời Minh Hòa Trung Xu từng nhắc đi nhắc lại nhiều lần về tranh cướp thuế chuyển, cuối cùng Hoàng đế Gia Tĩnh đánh nhịp: Lấy cái này đền cái kia ngân lượng về triều đình, dùng để trả quân phí ở biên cương; vật tư chính sắc thì thuộc về Hoàng thất, Hoàng đế dùng để ban thưởng cho đại thần (tiện để sửa chữa vườn của hoàng gia).

Ngô Ứng Ki nói: "Hủy bỏ quan thuế bản sắc, có thể giảm bớt quan tiền tệ xuống một phần ba, người làm thuê có thể giảm một nửa, còn có thể giảm việc cất vào kho, hao tổn khi vận chuyển."

Triệu Hãn gật đầu: "Việc này đáng để tiến hành, sau này bất kể quan thuế hải cảng hay là quan thuế trong nước đều chỉ thu đồng bạc và đồng tiền, cố gắng giảm bớt nhân thủ quan thuế."

Ngô Ứng Ki lại nói: "Quan tiền tệ trong đất liền, tức nghĩa là toàn bộ quan thuế thu nguyên liệu làm thuyền cũng phải tăng tốc độ vượt qua kiểm tra, còn có thể tiếp tục giảm thiểu quan viên thuế."

Thuế thuyền bè chính là thu thuế trọng tải thuyền buôn, không quan tâm trên thuyền chở loại hàng nào.

Cách thu thuế này, vải vóc, hương liệu, châu báu va hàng hóa chiếm phần lớn, than đá, gỗ và hàng cồng kềnh càng thiệt thòi.

Khi thương nhân đi qua quan tiền tệ ở đất liền thì chỉ nộp phí đi đường, không liên quan tới cân nặng, quan thuế trở thành trạm thu phí đất liền.

Trong quan thuế cỡ lớn trên sông cũng có rất nhiều quan thuế đường bộ cỡ nhỏ, được đặt trên đường núi Sùng Sơn. Triều đình phải nạo vét sông, giữ gìn đường lớn, thu ít phí đi đường rất hợp lý.

Thống nhất thu phí đi đường nhưng phải nâng cao năng suất thu thuế, giảm bớt tiền lương hành chính, có lợi cho lưu thông hàng hóa. Triệu Hãn và ba vị thần bàn bạc kỹ càng, đồng ý quan thuế chỉ lấy phí đi đường.

Còn thuế thương phẩm thì sử dụng chế độ đời Minh tiếp.

Đời Minh thu thuế thương phẩm như thế này: thương nhân buôn bán thương phẩm nhất định phải có giấy tờ buôn bán, còn phải ghi chú rõ phạm vi kinh doanh và địa điểm buôn bán. Sau đó nộp phí thủ tục, xin quan khoán thương phẩm (dẫn đường), đưa quan khoán đến chỗ buôn bán chứ không được trực tiếp bán ra, phải đưa hàng tồn vào chỗ quan thu thế báo thuế, còn phải kiểm tra chỗ vận chuyển hàng hóa có đóng khoán không, đóng thuế lấy phiếu xuất nhập xong mới có thể được vào thị trường.

Không có đóng khoán là hành vi buôn lậu!

Ngô Ứng Ki nói tiếp: "Từ năm Vạn Lịch Tiền Minh, tiểu thương người bán hàng rong nông thôn vào thành bán gà đều phải nộp thuế ở cửa thành. Năm Sùng Trinh, các loại thuế thương nhân tăng một phần năm, thêm các loại thuế hà khắc nhiều vô số. Bệ hạ tuy cấm sưu cao thuế nặng nhưng vài chỗ xa vẫn còn thu. Xin bệ hạ tiếp tục ban thánh chỉ, đại cáo thiên hạ, dân buôn bán nhỏ không cần phải nộp thuế hàng hóa."

"Có cả quan địa phương thu sưu cao thuế nặng Tiền Minh?" Triệu Hãn vô cùng ngạc nhiên và phẫn nộ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »