Trong những bộ lạc Tây Tạng này, tộc A Nhu và tộc Quách Mễ là lớn mạnh nhất.
A Nhu là một bộ lạc ngàn hộ, có nghĩa là được tạo thành từ 11 bách hộ. Quách Mễ thì lại là bộ lạc hai ngàn hộ, được tạo thành từ 20 bách hộ. Lịch sử bọn họ đến định cư tại Thanh Hải có thể truy ngược về tận vương triều Phổ Thiên. Về việc cái gì gọi là thiên hộ, bách hộ thì cũng là do được sắc phong từ nhà Nguyên.
Ở đời Minh, một phần bộ tộc A Nhu bị triều đình sáp nhập vào lãnh thổ Hãn Đông Vệ, trải dài từ phía nam Sa Châu đến phía nam chân núi Kỳ Liên.
Nơi ở của Tang Cát cách Đông Khoa tự khá gần, chỉ cần hai ngày đã chạy tới, hắn bị bắt phải dựng trướng bồng để chờ ngoài chùa.
Qua thêm mấy ngày, thủ lĩnh tới hội minh càng ngày càng nhiều.
Không chỉ có Tạng tù trưởng mà còn có Hồi tộc, Tát Lạp, Hoắc Nhĩ Đẳng tộc.
Nửa tháng sau, hội minh chính thức bắt đầu, hội trường được tổ chức ngay ở khu đất trống bên ngoài Đông Khoa tự.
Giang Lương cưỡi ngựa đến, các tù trưởng rối rít đứng dậy nghênh đón.
Sĩ tốt Đại Đồng mang bàn thấp tới, lại mang thêm rượu và thức ăn ngon, các tù trưởng cũng ngồi trên chiếu.
“Đi!”
Giang Lương gọi một tiếng, binh lính sau lưng hắn lập tức tháo nón an toàn xuống, đi rót rượu cho các tù trưởng.
Các tù trưởng vô cùng kinh ngạc, sĩ tốt Đại Đồng rót rượu cho bọn họ cũng đều đến từ các tộc.
“Mời uống rượu.” Một quân Đại Đồng Tạng mỉm cười nói.
Tang Cát hết sức kinh ngạc, vội hỏi: “Ngươi từ đâu đến đây?”
“Thiểm Tây.” Binh lính Tạng trả lời.
Tang Cát lại hỏi: “Thiểm Tây cũng có người Tạng ư?”
“Có.” Binh lính Tạng nói
Tang Cát lại hỏi: “Ngươi làm tạp dịch trong quân đội người Hán ư? Không đúng, ngươi có khôi giáp, hẳn phải là quân sĩ chăng?”
Binh lính Tạng nói: “Ba năm trước, triều đình lập một kỵ binh sư mới ở Thiểm Tây, tất cả binh lính đều được chiêu mộ từ Thiểm Cam. Kỵ binh sư có hơn mười ngàn người, trong đó có một ngàn người không phải người Hán. Kỹ năng cưỡi ngựa của ta không tệ, đã làm thập trưởng, dưới tay có mười kỵ binh.”
“Được, hay, không làm mất thể diện của nam nhi Tạng gia.” Tang Cát vô cùng vui sướng, lại hỏi: “Thế sĩ quan người Hán có khinh thường ngươi không?”
Binh lính Tạng nói: “Trong quân Đại Đồng, các tướng sĩ là người dân tộc được đối xử bình đẳng. Kỵ binh sư chúng ta có một vị tên là Tiêu Trường, đến từ tộc Tát Lạp, dáng người rất cao lớn uy mãnh, dưới quyền có hơn trăm người.”
Tang Cát lập tức châm chọc: “Người tộc Tát Lạp mà cũng được làm tướng quân à?”
Vẻ mặt binh lính Tạng lập tức thay đổi, nói: “Ngươi đừng có nói nhảm, mặc dù vị Tiêu Trường đến từ tộc Tát Lạp kia không phải là thượng quan của ta nhưng chúng ta đều rất tôn kính hắn. Năm ngoái trong cuộc thi cưỡi ngựa bắn cung, hắn còn được hạng ba toàn sư, tất cả đều dựa vào bản lĩnh thật sự của Tiêu Trường.”
Tang Cát chép miệng, không nói bậy bạ nữa.
Tộc Tát Lạp tự xưng là Tát Lạp Nhĩ.
Nguồn gốc của danh xưng này thì khá rối ren, có người nói là đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, có người lại bảo đến từ Turkmenistan, còn có người nói đến từ Hami. Sau này còn do trộn lẫn với Hán, Tạng, Hồi, Mông Cổ và các dân tộc khác trong một thời gian dài, lại phân chia đến các khu vực như Cam Túc, Thiểm Tây, Thanh Hải.
“Ngươi cũng là người Tát Lạp?” Thổ ty châu Tích Thạch thời Đại Minh, Hàn Bính hỏi.
Hàn Diệu Võ trả lời: “Vâng.”
Hàn Bính lại nói: “Người Tát Lạp chúng ta thường ở gần Tích Thạch, sao ngươi lại nhập ngũ làm sĩ quan cho người Hán được vậy?”
Hàn Diệu Võ cười rất vui vẻ: “Ta là trốn nô, nhân lúc loạn lạc bỏ chạy khỏi Cam Túc. Tướng quân Hán gia tâm thiện, không ngại xuất thân của ta, còn đặt cho ta một cái tên như người Hán. Xin hỏi Hàn chỉ huy, ngài muốn bắt ta quay về Tích Thạch sao?”
“Không dám!” Hán Bính nghiến răng nghiến lợi.
Hàn Diệu Võ nói tiếp: “Ta là Tiêu Trường của kỵ binh sư Đại Đồng, dưới quyền có một trăm kỵ binh. Lính của ta cũng khoác khôi giáp. Xin hỏi Hàn chỉ huy, dưới quyền ngài có bao nhiêu kỵ binh được mặc giáp?”
Sắc mặt Hàn Bính không chút thay đổi, nói: “Không nhiều, cũng không ít.”
Hàn Diệu Võ uy hiếp: “Hôm nay Đô đốc hội minh cũng ở đây, các bộ lạc ở Thanh Hải nên ngoan ngoãn nghe lệnh. Nếu không nghe lời, đúng lúc người Mông Cổ lại chạy thoát, Đô đốc không tìm được ai để trút giận, có khi lại mở ra một cuộc diệt tộc cũng nên.”
“Đa tạ đã nhắc nhở.” Hàn Bính vừa giận vừa sợ.
Những bộ lạc chuyển tới đây từ Trung Á thì dân số có thể được bao nhiêu chứ? Một khi chọc giận quân Đại Đồng, thật đúng là nói diệt tộc liền diệt tộc.
Chờ đến khi các binh lính của các tộc đã trao đổi với các tù trưởng xong, Giang Lương nâng ly nói: “Chư vị thủ lĩnh, lại uống cạn ly này nào!”
Giờ phút này, những binh lính vừa mới phụ trách việc rót rượu lại hóa thân thành phiên dịch viên.
Các tù trưởng vội vàng nâng ly chung vui.
Giang Lương ngửa cổ uống cận, ngay sau đó tức giận nói: “Đồ Lỗ Bái Hổ (Gushi Khan) vừa tới Thanh Hải đã xua đuổi các ngươi vào sâu trong núi, đồng cỏ tốt tươi đều bị người Mông Cổ chiếm. Ta thấy không đáng với các chư vị chút nào!”
Lời nói này chạm đến tim của rất nhiều tù trưởng, vì thế nên họ cũng vô thức gật đầu đồng ý.
Cũng có người thấy bình thường với việc này, chẳng hạn như hai vị tù trưởng Hàn Bính và Hàn Đại Dụng của tộc Tát Lạp, bọn họ đã sinh sống ở vùng núi suốt mấy trăm năm.