Quảng Tây, phủ Bình Nhạc.
Nhìn từ cấu thành dân cư của toàn bộ Quảng Tây, tộc Tráng 50%, tộc Dao 30%, Hán 20%.
Nhưng phủ Bình Nhạc rất đặc thù, tộc Tráng còn không đến 20%, hơn nữa phần lớn đều là người bên ngoài chuyển đến. Bọn họ có một danh hiệu tập thể, tên là “Đông Thiên lương binh”.
Lương binh, chính là lang binh.
Dân Dao phủ Bình Nhạc thường xuyên tạo phản, triều đình Đại Minh khó có thể trấn áp, vì thế chuyển một lượng lớn lương binh tộc Tráng đến. Lựa chọn sử dụng địa hình dễ thủ khó công, để cho lương binh kết trại truân điền, dùng quân trại truân điền bao vây điểm tập trung dân cư của tộc Dao, đồng thời ngăn cản dân Dao và dân Hán.
Tộc Tráng phủ Bình Nhạc, phần lớn thuộc loại di dân quân sự, giá trị tồn tại là vì trấn áp tộc Dao.
Không chỉ như thế, quan viên người Hán còn cố ý khơi mào mâu thuẫn, khiến cho tộc Tráng và tộc Dao hình thành kẻ thù truyền kiếp, như thế có thể tiến hành thống trị rất thoải mái.
Nhưng mà đến cuối thời nhà Minh, tình huống xuất hiện biến hóa.
Tộc Tráng chủ động làm hòa với tộc Dao, thậm chí còn kết thành quan hệ thông gia. Dân dao được chia ra một lượng lớn, còn có người Hán mất đi đất đai, cùng với dân Tráng không có đất để trồng trọt, cùng nhau kết thành thôn xóm khai khẩn núi hoang, chân chính thực hiện dung hợp ba dân tộc Hán, Tráng, Dao.
Những thôn xóm hỗn cư này, trở thành mục tiêu phát triển trọng điểm của quân Đại Đồng.
Trải qua hành động hơn nửa năm dài, rốt cuộc quân Đại Đồng cũng chiếm lĩnh được huyện thành, đồng thời chiêu hàng lương binh trại Điểm Đăng, tiêu diệt trại lương binh Đại Ninh, hoàn thành công tác nhập hộ khẩu chia ruộng ở Hạ Huyện.
Một sư đoàn chính quy, nửa năm chỉ đánh chiếm được nửa huyện, chủ yếu là nguyên nhân địa hình, còn có chính là lương binh rất ghê tởm.
Sau khi chủ lực lương binh bị đánh tan, thì bảy người một đội ở trong núi đánh trận chiến du kích.
Tên độc khiến cho người khác khó lòng phòng bị, lúc nào cũng có thể từ trong rừng bắn ra, chỉ thành viên nông hội đã hi sinh hơn 30 người.
Đã là đầu mùa đông, quân Đại Đồng tiếp tục tấn công.
Bọn họ vừa mới nhận được quân lệnh, tên của quân đội đổi thành sư đoàn số mười quân Đại Đồng, đề bạt Lưu Tân Vũ người Hồ Nam là sư trưởng. Người này là phản tặc Hồ Nam, dẫn theo hai châu bốn huyện quy thuận Triệu Hãn, rồi lại đi theo Trương Thiết Ngưu cùng đánh Quảng Đông lập công.
Tổng tuyên giáo quan của sư đoàn số mười tên là Đinh Gia Thịnh, cũng xuất thân từ phản tặc, tự học “Đại Đồng tập”, dẫn theo huyện Đô Xương đầu nhập vào Triệu Hãn.
Một vạn tướng sĩ quân Đại Đồng, dẫn theo hơn một ngàn lương binh, còn có rất nhiều dân phu, đi đường thủy cùng đi đến giết trại Biên Bồng.
Đời sau của trại Biên Bồng ở phía tây bắc huyện thành Chung Sơn không xa, nằm ở ven sông dựa vào núi, dễ thủ khó công.
Hai trại chủ của trại lương binh, sớm đã công chiếm được phủ Bình Nhạc, tập trung thủ lĩnh của các trại lương binh tự lập làm Vương, hơn nữa còn có một vài thế lực tộc Hán, tộc Dao quy phụ.
Thậm chí bọn họ còn thuận theo sông, đánh chiếm được huyện Dương Sóc.
Nếu không có quân Đại Đồng ở phía sau uy hiếp, đoán chừng những lương binh này, đã công chiếm được cả Quế Lâm!
Lần này phải quyết chiến rồi, địa điểm ở ngay trại Biên Bồng.
Hạ Huyện còn có khu vực trại Biên Bồng, là nơi sản xuất lương thực hiếm có của phủ Bình Nhạc. Nơi này có thung lũng ở giữa các dãy núi, còn có sông dùng để tưới tiêu ruộng, thủ lĩnh lương binh không nỡ vứt bỏ.
Thủ lĩnh lương binh tên la Vi Xương Dịch, là thế gia vọng tộc của tộc Tráng, ý là “trâu nước”.
Trình độ Hán hóa của người này cực cao, chẳng những lấy con gái thân sĩ người Hán làm vợ, mà bản thân cũng từng đọc sách, tự lập làm “Bình Nhạc Vương”.
Hai bên bày trận ở bên bờ sông, đường đường chính chính tác chiến.
Đối với Vi Xương Dịch mà nói, chỉ có thể đánh như thế. Nếu như kết trại tự thủ, những quân Đại Đồng đáng chết này, sẽ trực tiếp chia ruộng ở xung quanh.
Trại Điểm Đăng chính là đầu hàng như thế, quân Đại Đồng bao vây trại, chiêu gọi dân Hán và dân Dao để chia ruộng. Những nơi đó đều là ruộng của tộc Tráng ở trong trại, bọn họ trơ mắt nhìn đất bị chia đia, còn đặc biệt để lại ba ngàn quân Đại Đồng đóng quân như thế, giúp đỡ bách tính cày ruộng đào kênh.
Tiếp đó lại các loại kêu gọi, chỉ cần tình nguyện đầu hàng, lương binh có thể được chia ruộng một lần nữa.
Giằng co hai tháng, trại chủ trại Điểm Đăng dưới áp lực của nội bộ, dẫn theo lương binh dưới trướng đầu hàng tập thể. Dân Tráng trong trại, cũng bị phân tán đi chia ruộng, tạo thành thôn xóm tạp cư với dân Dao, dân Hán.
Bên sông Phú Giang.
Đội hình quân Đại Đồng dày đặc, trận hình của lương binh lại cực kỳ rời rạc.
Nhưng mà, chiến lực của lương binh không thể khinh thường, tương truyền uyên ương trận của Thích Kế Quang còn tham khảo lương binh.
Bảy người một đội, bốn người chủ chiến, ba người phụ trợ.
Có kỵ binh, đều là kỵ thương tác chiến.
Bộ binh có binh thuẫn bài, binh súng hỏa mai, trường thương binh, cung binh, nỏ binh, tán binh, tán thủ, và những đội khác. Ngoại trừ vũ khí thông thường ra, còn có tiêu thương, tên quáng lang, tên dược (tên độc) và những thứ khác.
Trước khi khai chiến, kỵ binh Đại Đồng chạy dọc đường, cầm theo loa hô to: “Các huynh đệ tộc Hán, tộc Dao, tộc Đồng (tộc Tráng), quân Đại Đồng không phân biệt dân tộc cao thấp, huynh đệ tỷ muội các tộc đều bình đẳng như nhau. Đứng bán mạng cho trại chủ lương binh nữa, chỉ cần bỏ vũ khí xuống đầu hàng, mỗi người đều có thể được chia ruộng…”