Trẫm

Lượt đọc: 16219 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1924
Tài chính bội chi (1)

❊ ❊ ❊

“Thứ ba là do việc tiến hành khai thác ở hải ngoại. Lãnh thổ ở hải ngoại càng ngày càng tăng thêm, cần thiết lập tổng đốc, điều động quan lại và binh lính tới trấn giữ. Ngoại trừ Luzon và Malacca, cho đến nay các lãnh thổ hải ngoại còn lại vẫn còn đang trong tình trạng bị lỗ, riêng Cự Cảng có thể miễn cưỡng duy trì cân bằng giữa thu và chi…”

“Thứ tư là do chinh phạt Miến Điện. Việc chuẩn bị chiến tranh diễn ra trong nhiều năm, tuyển thêm lực lượng tuần tra biên giới tạm thời, rèn đúc pháo, đóng tàu, điều động vật tư... Tất cả những việc này đều tiêu tốn tiền của, kể từ lúc chuẩn bị cho tới khi rút quân, tổng cộng tiêu tốn ba triệu lượng. Đây chỉ mới là khởi đầu. Những vùng đất mới chiếm được cần phải điều động quan viên, đóng quân di dân, làm đường, lập dịch trạm, xây dựng thành trì...”

Nói trắng ra là do kinh phí giáo dục và các khoản chi tiêu gia tăng đã ngốn rất nhiều tiền của.

Triệu Hãn cười nói: “Các khanh không cần phải sầu lo, ba đại đô hộ phủ vừa mới thành lập nên chuyện gì cũng cần đến tiền, đương nhiên phí tổn không nhỏ. Mặc dù hiện tại lãnh thổ ở hải ngoại đang bị lỗ nhưng Luzon chẳng phải chính là một ví dụ tốt hay sao? Chỉ cần phát triển thêm vài năm nữa thì lãnh thổ hải ngoại sẽ sớm sinh lời. Còn lãnh thổ Tây Nam mới chiếm được thì chắc hẳn có thể hồi vốn trong vòng hai mươi năm, sau hai mươi năm, nó sẽ trở thành nguồn thu cho triều đình.”

Quá trình khai thác lãnh thổ của các đời vương triều cho thấy ngoại trừ lãnh thổ trung tâm, hầu hết các vùng biên cương đều sẽ bị lỗ.

Bởi vì cần phải duy trì hệ thống quan lại và quân sự, xây dựng rất nhiều cơ sở hạ tầng (dịch trạm, dịch đạo, thành trì). Sau khi Chu Lệ triều Minh qua đời, phạm vi biên cảnh thu hẹp lại trên diện rộng, nguyên nhân chủ yếu là do không chịu nổi áp lực tài chính, hoàn toàn không liên quan tới vấn đề quân sự.

Còn các lãnh thổ ở hải ngoại, vì sao quân thực dân châu u kiếm được tiền nhưng triều đình Đại Đồng lại phải chịu cảnh lỗ vốn suốt nhiều năm?

Thứ nhất, chính sách thực dân của Trung Quốc không bóc lột quá mức cư dân bản địa, có thể nói là tương đối nhân văn. Thậm chí triều đình Đại Đồng còn không ngừng mở thêm trường học, dùng sức mạnh văn hóa giáo dục để đồng hóa dân bản địa.

Thứ hai, khi châu u mới chiếm được thuộc địa, bọn họ cũng phải chi rất nhiều tiền. Chẳng hạn như khi Hà Lan chiếm được Đài Nam, cho dù bọn họ bóc lột dân bản địa tới tận cùng nhưng cũng phải mất tới sáu năm, cuối cùng nhờ sức mạnh của người Hán, bọn họ mới dần dần có lãi (khoản lãi này vẫn chưa tính đến chi phí xây dựng cơ bản và chi phí quân đội ở giai đoạn trước đó).

“Bệ hạ.” Phí Thuần đưa ra đề nghị của mình: “Hằng năm, sáu tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây, Tứ Xuyên đều dư rất nhiều tiền trong số tiền thuế được cho phép giữ lại. Thần cho rằng nên trích một phần khoản này để viện trợ các tỉnh nghèo khó, không thể tất cả đều trông cậy vào triều đình trung ương cấp phát được.”

Chuyện này tương đương với việc bảo Đông bộ chi viện cho Tây bộ, miền Nam chi viện cho miền Bắc.

Đây không phải điều gì mới mẻ, triều Minh vẫn thường xuyên làm như vậy nhưng khá tự do, không lập thành chế độ cụ thể.

Trong lịch sử triều Thanh, cách làm này đã được lập thành quy định.

Tài chính triều Thanh có mức độ tập quyền rất cao, thậm chí không phân chia trung ương và địa phương, cho nên khoản thu vào hằng năm đều cực kỳ cao.

Ở thời nhà Thanh, các châu phủ huyện có quyền giữ lại toàn bộ tiền thuế, thậm chí nếu vẫn không đủ để chi thì Bố Chính ti sẽ tổng hợp thuế ruộng trên toàn tỉnh. Tỉnh báo cáo tình hình lên trung ương, trung ương xin lệnh của hoàng đế phân phối lại tài chính giữa các tỉnh. Một phần giữ lại cho tỉnh mình (gọi là tồn lưu), một phần chuyển cho tỉnh ngoài (gọi là khởi vận). Khoản thuế ruộng khởi vận cho trung ương thì gọi là kinh hưởng, chi viện cho các tỉnh khác thì gọi là hiệp hưởng.

Cách làm này có thể đảm bảo chính quyền trung ương có tiền, nha môn các tỉnh cũng có tiền. Tuy nhiên, với các châu phủ huyện quá nghèo, nếu quan địa phương không bóc lột bách tính thì chớ nói tới chuyện bản thân có thể tham nhũng được bao nhiêu, ngay cả chi tiêu bình thường cũng còn không đủ.

Điều này thúc đẩy các quan châu huyện điên cuồng trưng thu sưu cao thuế nặng, bóc lột dân chúng.

Đến cuối thời nhà Thanh, nơi quan châu huyện ăn được nhiều nhất là Tứ Xuyên. Do các tỉnh khác áp dụng chính sách thuế quá nặng nên quan châu huyện đã bóc lột gần hết của dân. Còn Tứ Xuyên, do cuối thời Minh bị giết sạch nên phải áp dụng chính sách thuế thấp để khuyến khích di dân và vẫn liên tục duy trì chính sách này không thay đổi. Cho nên, dân chúng ở Tứ Xuyên đều tương đối giàu có, nhờ vậy mà quan phủ có thể ra sức vơ vét, sưu cao thuế nặng tăng gấp đôi, thậm chí gấp mười, mấy mươi lần!

Ban đầu, khi mới di dân, dân chúng Tứ Xuyên phải đoàn kết với nhau để chống lại dã thú, thiên tai. Sau này, họ lại phải đồng tâm hiệp lực chống lại tham qua ô lại. Sau hơn hai trăm năm đấu tranh, nơi này đã hình thành tổ chức đoàn thể xã hội lớn nhất trên thế giới tên là Kha Lão hội. Đến thời Dân quốc, bảy mươi phần trăm người Tứ Xuyên đều là thành phần phản động, ngay cả đại cô nương, tiểu tức phụ ở nông thôn cũng rất có khả năng là thành viên của Kha Lão hội.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »