Từ thời Tống đến đầu thời Minh, Trung Quốc đã áp dụng phương pháp ghi sổ đơn giản.
Cùng với sự phát triển của thương mại, phương pháp "Ghi sổ ba chân" xuất hiện vào giữa thời Minh, đây là một loại phương pháp ghi sổ quá độ từ dạng đơn sang dạng kép. Đến cuối thời Minh, phương pháp "Ghi sổ ba chân" phát triển thành phương pháp "Ghi sổ long môn", là một loại phương pháp có vẻ thô ráp phục thức nhớ trướng pháp.
Cùng với việc Triệu Hãn phổ biến chữ số Ả Rập, mở rộng phương pháp toán học kiểu mới, cộng thêm sự hưng thịnh của ngành thương mại, mấy năm này rốt cuộc đã xuất hiện phương pháp "Ghi sổ bốn chân". Đó là một phương pháp ghi sổ kép tương đối hoàn thiện, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót so với phương pháp ghi sổ của mấy trăm năm sau, nhưng nguyên lý cơ bản thì giống như đúc.
Hai năm trước, triều đình ban hành pháp lệnh, toàn bộ cơ cấu chính quyền và người trong thương xã phải mau chóng áp dụng phương pháp "Gi sổ bốn chân". Thời gian học tập chỉ trong vòng một năm, nếu kế toán trong công ty tư nhân không học được trong vòng một năm, vậy thì đợi khi nào học xong lại mở cửa kinh doanh.
Dù sao yêu cầu đối với kế toán càng ngày càng cao, nhiều học sinh tốt nghiệp trung học không dám chắc có thể thi đậu Lại viên, dứt khoát chạy tới các công ty làm kế toán. Tất nhiên, cũng có không ít người làm luật sư, trong dân gian gọi là tên xúi bẩy. Phong trào kiện tụng đang ngày càng thịnh hành khắp khu bực phía nam, động một chút là muốn thưa kiện, điều này cũng là được kế thừa từ thời Minh.
Hai loại phương pháp ghi sổ kép, ghi sổ long môn và ghi sổ bốn chân này vô cùng có lợi cho việc kiện tụng trong thương mại. Từng quyển sổ kế toán chính là chứng cứ cho một vụkiện. So với hai phương pháp trên, phương pháp ghi sổ ba chân và phương pháp ghi sổ đơn truyền thống lại không chứng minh được gì trong các vụ kiện, rất nhiều nội dung có thể làm chứng cứ không được ghi lại. Việc khởi kiện thuận lợi, tất nhiên quá trình điều tra vụ án cũng thuận lợi.
Bảy tám ngày sau, quan tòa, quan Đề hình của huyện Thượng Hải cũng bị gọi tới, bắt đầu thẩm tra và xử lí vụ án thứ nhất.
Tào Bổn Thục cầm kết quả điều tra hỏi: "Vương Phảng có ở đây không?" "Có thảo dân." Một người đàn ông gần năm mươi tuổi trả lời. Tào Bổn Thục hỏi: "Ngươi đảm nhận chức vụ gì ở cửa hàng Xương Nguyên?"
Vương Phảng trả lời: "Thảo dân là đại chưởng quỹ của cửa hàng Xương Nguyên chi nhánh Thượng Hải, cửa hàng chính vận chuyển hàng hóa từ Tứ Xuyên đến Thượng Hải, thảo dân chỉ phụ trách bán hàng."
Tào Bổn Thục gật đầu khen ngợi: "Các mục ghi chép của cửa hàng các ngươi khớp với ghi chép của Thông Khóa Ty Thượng Hải. Rất tốt, quý thương xã kinh doanh hợp pháp, nộp thuế theo điều lệ, ta thay mặt triều đình biểu dương các ngươi."
Vương Phảng vui mừng nói: "Ngự Sử đại nhân quá khen. Đây là điều nên làm." Nụ cười trên mặt Tào Bổn Thục chợt tắt: "Lục Quảng là ai?" "Có thảo dân." Một người đàn ông hơn năm mươi hơn tuổi sợ tới mức suýt chút nữa quỳ xuống.
Tào Bổn Thục thở dài: "Tổ tiên của các hạ, Lục Thâm, được rất nhiều học giả ngưỡng mộ. Phàm là quan viên viết sử ở Hàn Lâm viện, ai cũng biết đến cái tên Lục Tử uyên. Thậm chí có thể nói, từ thời Gia Tĩnh đến tân triều Đại Đồng, phàm là học trò nghiên cứu sử học đều là đồ đệ của Lục Tử Uyên!" Lục Quảng cúi đầu chắp tay: "Tổ tông danh tiếng kém cỏi, con cháu không dám dựa vào."
"Không dám dựa vào?" Tào Bổn Thục cũng là người xuất thân từ học trò, hắn tức giận đến mức trực tiếp đập bàn quát: "Nếu Lục Tử Uyên nếu còn sống, nhất định sẽ đánh chết đám con cháu vô tích sự các ngươi." Lục Quảng sợ tới mức quỳ xuống.
"Đứng lên đi, Bản triều thẩm án không cần quỳ!" Tào Bổn Thục quát. Lục Quảng thấp thỏm đứng lên, nhưng cảm giác đầu gối như nhũn ra, bất cứ lúc nào cũng có thể quỳ xuống lại.
Tào Bổn Thục nói: "Cửa hàng Phước Long của nhà họ Lục ngươi, là đối tác làm ăn lớn nhất của cửa hàng Xương Nguyên. Sổ sách của cửa hàng Xương Nguyên có thể trùng khớp với Thông Khóa Ty Thượng Hải, vậy thì tại sao cửa hàng Phước Long của nhà họ Lục lại không khớp." Lục Quảng sợ hãi không biết trả lời thế nào.
Nhìn công văn vụ án trong tay, Tào Bổn Thục chất vấn: "Năm ngoái, cửa hàng Xương Nguyên bán cho các ngươi tổng cộng ba ngàn cân trà Tứ Xuyên, trên sổ sách của các ngươi, tại sao chỉ mua một ngàn tám trăm cân trà Tứ Xuyên còn một ngàn hai trăm cân nữa đâu. Bị con cháu nhà họ Lục uống hết rồi à?" Lục Quảng không cách nào trả lời.
"Còn có tơ thô, năm ngoái bán cho các ngươi sáu trăm đảm tơ thô, sao trong sổ chỉ ghi có bốn trăm đảm?" Tào Bổn Thục đập bàn hỏi. Khai khống à!
Lục Quảng lại quỳ xuống, khóc lóc nói: "Đại nhân tha mạng, nể mặt... nể mặt..., ngài hãy bỏ qua cho nhà họ Lục lần này đi." "Ồ!" Tào Bổn Thục nhất thời cười to: "Nể mặt ai, ngươi nói rõ ràng xem nào." Lục Quảng không dám mở miệng. "Nói!" Tào Bổn Thục gầm lên.
Lục Quảng cất tiếng nhỏ như muỗi kêu: "Nể mặt... Trưởng công chúa."
Tào Bổn Thục rốt cuộc hoàn toàn nổi giận: "Ngươi mẹ nó nói hưu nói vượn, nhà họ Lục liên quan gì đến Trưởng công chúa?"
Lục Quảng vậy mà lại giải thích cụ thể: "Phò mã là cháu cố của Thiếu Hồ tiên sinh (Từ Giai), bá phụ của thảo dân là cháu rể của Thiếu Hồ tiên sinh. Thảo dân cùng thế hệ với Phò mã."
Tào Bổn Thục nhất thời bị chỉnh đến cạn lời, cái loại quan hệ dây mơ rễ má gì đây?